TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân
và gia đình về ly hôn, con chung".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Nhã Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phượng
2. Ông Trần Văn Bé Hai
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong ngày 31/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/5/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 358/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1977
- Địa chỉ: số A L, tổ B, khóm C, phường D, thành phố C, Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Anh Lê Thành D1, sinh năm 1973
- Địa chỉ: tổ A, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Anh Dũng có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc D và anh Lê Thành D1 chung sống năm 2011, có đăng ký kết hôn tại U, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2014. Vợ chồng chung sống hạnh phúc có 01 con chung, thời gian sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, cả hai không thể ngồi lại nói chuyện để giải quyết mâu thuẩn. Chị D thừa nhận không còn tình cảm với anh D1, không muốn tiếp tục chung sống với anh D1. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Ngọc D yêu cầu ly hôn anh Lê Thành D1.
- Về con chung: Chị D với anh D1 có 01 con chung tên Lê Dĩnh K, sinh ngày 18/10/2014. Khi ly hôn chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Thành D1 trình bày:
- Về hôn nhân: anh D1 thống nhất vợ chồng chung sống với nhau có đăng ký kết hôn như lời trình bày của chị D. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Anh D2 thừa nhận trong thời gian chung sống có những việc anh D2 làm mà không có trao đổi ý kiến với chị D nên đã làm mất niềm tin với chị D, ảnh hưởng tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên anh D2 còn thương vợ con nên anh D2 không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D.
- Về con chung: Chị D với anh D2 có 01 con chung tên Lê Dĩnh K, sinh ngày 18/10/2014. Khi ly hôn anh D2 đồng ý để chị D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
- - Căn cước công dân của chị D (bản photo);
- - Giấy khai sinh của Lê Dĩnh K (bản sao);
- - Giấy chứng nhận kết hôn của chị D anh D2 (bản sao);
- - Căn cước công dân của Lê Thành D1 (bản photo);
- - Văn bản ghi ý kiến của Lê Dĩnh K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc D về việc yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thành D1, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”.
[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại thị trấn M, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Ngọc D.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
- Về hôn nhân: Chị D và anh D1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại U, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2014 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống thì nay chị D yêu cầu ly hôn vì cho rằng hôn nhân không thể tiếp tục, sống chung không còn hạnh phúc. Điều này cũng được phía anh D1 thừa nhận, nhưng anh D1 không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên tại phiên tòa anh D1 cũng không đưa ra được phương án hàn gắn tình cảm. Như vậy, có căn cứ nhận định mâu thuẫn giữa vợ chồng như chị D trình bày là có thật và đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.
- Về con chung: Chị D với anh D1 thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Lê Dĩnh K, sinh ngày 18/10/2014. Khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và anh D1 đồng ý để chị D trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện nay Lê Dĩnh K đang sống với chị D phát triển và được chăm sóc tốt điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu K. Anh Dũng thống nhất để chị D được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cũng như sự phát triển của cháu K, nên việc chị D yêu cầu được nuôi cháu K, là phù hợp nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không có yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con. Do chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Anh Dũng có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Chị D và anh D1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị D và anh D1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, thì chị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp theo biên lai số 0008648 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc D.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với anh Lê Thành D1.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Lê Dĩnh K, sinh ngày 18/10/2014. Anh Lê Thành D1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu.
Anh Lê Thành D1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: khong có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Chị Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị B đã nộp theo biên lai số số 0008648 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Phan Thị Nhã Quyên |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
