Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày 30 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng, ông Sùng A Dờ
  • Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn – Thư ký Tòa án
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Lò Trí Siêu – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST - HS ngày 14/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 28/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 24/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn A D – Sinh năm 1987 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; Nơi ĐKHKTT: bản Phăng S, xã P, H. S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Tẩn Cuổi C – sinh năm 1947, con bà: Tẩn Lún Q – sinh năm 1945; Gia đình bị cáo có 06 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Vợ: Cheo M (Chẻo Mý G) – sinh năm 1988; con: bị cáo có 03 con; con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền sự, tiền án: không.

Nhân thân: Ngày 22/12/2017, Tẩn A bị Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, áp dụng khoản 1 Điều 248; Điều 20; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Tẩn A D ba tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của bản án, tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 17/4/2024; tạm giam từ ngày 20/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Cheo Mý G (Chẻo Mý G) – sinh năm 1988 – có mặt. Địa chỉ: bản P, xã P, H. S, tỉnh Lai Châu.
    2. Ủy ban nhân dân huyện S, Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Văn S – Chức vụ Chủ tịch UBND huyện S. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân T – Chánh Văn phòng - Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • * Những Người làm chứng:
    1. Anh Giàng A T1, sinh năm 1991– vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
    2. Anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1981 – vắng mặt. Nơi cư trú: khu phố 3, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
    3. Anh Đồng Minh T2, sinh năm 1983 – vắng mặt. Nơi cư trú: khu phố 3, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
    4. Anh Lê Trí H1, sinh năm 1980 – vắng mặt. Nơi cư trú: khu phố E, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu
    5. Anh Thân Quý P, sinh năm 1981– vắng mặt. Nơi cư trú: khu phố E, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu.
    6. Anh Sùng A L, sinh năm 1977 – vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Nơi cư trú: khu phố 4, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
    7. Anh Bùi Xuân D1, sinh năm 1977– vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Nơi cư trú: khu phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tối ngày 16/4/2024, bị cáo Tẩn A D2 nghe có người nói xấu vợ mình có quan hệ nam nữ với một số người (không rõ nhân thân, lai lịch). Bản thân D2 không có căn cứ tài liệu gì. Đến trưa ngày 17/4/2024, D2 nảy sinh ý định lên trụ sở Hội đồng nhân dân – Uỷ ban nhân dân (HĐND-UBND) huyện để gặp đồng chí Đồng Văn L1 (nguyên chủ tịch UBND huyện) để nhờ giải quyết khúc mắc của bản thân. Đến hồi 13 giờ 35 phút, D2 cầm 01 con dao (cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 31cm, vị trí của lưỡi dao rộng nhất là 06cm) bọc vào miếng vải, cầm trên tay trái, mục đích nếu có ai ngăn cản thì sẽ dùng để doạ đánh lại, D2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter, BKS 25B1-003.61 của mình, lên sân của trụ sở Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện S.

Khi lên đến nơi, D2 dừng xe ở sân rồi lớn tiếng, chửi bới. Lúc này, D2 thấy tại phòng làm việc của anh Giàng A T1 - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện có anh Nguyễn Đình Đ - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện và anh Đồng Minh T2 – Phó trưởng Ban dân tộc HĐND huyện đang họp. Khi nghe thấy tiếng chửi bới như vậy thì anh Đ, anh Giàng A T1 và anh Đồng M T1 dừng cuộc họp lại; khi biết người đang gây rối trật tự công cộng tại trụ sở là Tẩn A thì anh Đ ra khuyên ngăn (anh Đ, anh Giàng A T1 có biết D2 từ trước, do liên quan đến giải phóng mặt bằng). Tẩn A D2 tay trái cầm con dao đi đến phòng anh Giàng A T1 tiếp tục chửi bới, xúc phạm, đe doạ những người trong phòng; trong lúc anh Đ đang động viên, khuyên ngăn thì D2 nhiều lần dùng tay phải đập vào ghế gần vị trí anh Đ ngồi; tay trái cầm dao chỉ về phía anh Giàng A T1 đe doạ. Mặc dù được mọi người trong phòng khuyên ngăn, nhưng việc bức xúc của mình chưa được giải quyết, Tẩn A D2 di chuyển lên dãy nhà làm việc ba tầng bằng lối cửa chính, D2 vừa đi vừa chửi, nhiều lần dùng con dao mình mang theo đập mạnh vào lan can cầu thang, gây tiếng động lớn, tiếp tục chửi bới, gây mất trật tự ảnh hưởng đến hoạt động bình thường và gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho mọi người đang làm việc trong trụ sở. Lên đến tầng 2, tay trái D2 cầm con dao, tay phải gõ cửa phòng làm việc của đồng chí Chủ tịch, các đồng chí Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện và một số phòng nữa nhưng không gặp được ai. Sau đó, D2 tiếp tục đi lên tầng 3 để tìm lãnh đạo huyện để giải quyết khúc mắc của mình, nhưng vẫn không gặp được ai. Trong lúc đang chuẩn bị quay xuống tầng 2, tại vị trí đầu cầu thang tầng 3, Tẩn A gặp anh Sùng A L, sinh năm 1977; trú tại khu phố E, thị trấn S là bảo vệ của trụ sở HĐND-UBND huyện đang đứng ở cầu thang tầng 2; khi gặp Dao, anh L có hỏi, khuyên can, thì D2 dùng dao đập mạnh vào lan can đồng thời chỉ về phía anh L đe doạ đánh anh L. Do lo sợ nên anh L quay xuống tầng 1; Tẩn A D2 đi xuống tầng 2 tiếp tục gõ cửa phòng làm việc của các đồng chí lãnh đạo huyện một lần nữa nhưng vẫn không gặp được ai. Do vấn đề của mình chưa được giải quyết nên D2 vẫn tiếp tục to tiếng và chửi bới. Đến khoảng 14 giờ, Tẩn A nổ máy, điều khiển xe mô tô của mình về nhà và cất dao ở trong bếp. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tiến hành giữ người, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Tẩn A. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo đã có hành vi dùng dao lên trụ sở HĐND-UBND huyện chửi bới, đe doa mọi người trong giờ làm việc diễn ra trong khoảng thời gian từ 13 giờ 35 phút đến khoảng 14 giờ, gây ồn ào, mất trật tự; ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc họp của các anh Nguyễn Đình Đ, Giàng A T1Đồng Minh T2 dẫn đến việc báo cáo đồng chí Bí thư về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai bị dừng lại; đồng thời gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho mọi người đang làm việc trong trụ sở. Toàn bộ hành động của Tẩn A D2 đã được camera của trụ sở và điện thoại di động của một số cá nhân ghi lại.

Tại bản kết luận giám định dữ liệu điện tử số 479/KL-KTHS ngày 04/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: không phát hiện dấu hiệu cắt, ghép chỉnh sửa trong 03 tập tin video gửi giám định.

Về vật chứng của vụ án:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter màu trắng, mang BKS 25B1-003.61, xe cũ đã qua sử dụng (Đăng ký xe mang tên Tẩn A).
  • 01 con dao, cán bằng gỗ có chiều dài là 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao là 06cm.
  • 01 mảnh vải hình chữ nhật có kích thước 0,38x0,25m, màu xám.
  • 03 đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell màu vàng, dung lượng 4,7 GB được niêm phong trong 01 phong bì của Công an tỉnh L (mẫu vật hoàn lại sau giám định) cần chuyển theo hồ sơ vụ đến Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ để phục vụ công tác xét xử.

Bản cáo trạng số 47/CT - VKSSH ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Tẩn A D2 ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội: “gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị rút một phần truy tố đối với bị cáo, rút truy tố tại điểm c khoản 2 Điều Điều 318 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 của BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Tẩn A D2 từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 08 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao, cán bằng gỗ có chiều dài là 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao là 06cm; 01 mảnh vải hình chữ nhật có kích thước 0,38x0,25m, màu xám.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter màu trắng, mang BKS 25B1-003.61.

Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Ủy ban nhân dân huyện S không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự, đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cheo Mý G (là vợ của bị cáo) đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ngoài ra bà không có ý kiến gì khác.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày bản bào chữa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phạm tội do ghen tuông mù quáng, bị cáo có ba con nhỏ nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét.

Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, đối với đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát bị cáo cho rằng là nặng bị cáo biết lỗi bị cáo xin lỗi Tòa án, Hội đồng xét xử, xin lỗi UBND huyện. Đại diện Viện kiểm sát tranh luận đối với đề nghị của bị cáo về mức hình phạt là nặng tuy nhiên xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên mức hình phạt đề xuất là tương xứng và phù hợp. Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị rút một phần truy tố đối với bị cáo, rút truy tố tại điểm c khoản 2 Điều Điều 318 BLHS là có căn cứ phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 35 phút đến khoảng 14 giờ ngày 17/4/2024, Tẩn A D2, sinh ngày 10/12/1987 đã có hành vi dùng dao đi lên trụ sở HĐND-UBND huyện S chửi bới, đe doạ, gây tâm lý hoang mang, lo sợ và ảnh hưởng đến thời gian, tiến độ giải quyết công việc của cán bộ đang làm việc, gây mất trật tự và ảnh hưởng đến hoạt động của HĐND - UBND Huyện S. Như vậy, hành vi của Tẩn A D2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện S, tỉnh Lai Châu. Ủy ban nhân dân huyện S đã đề nghị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức xem thường pháp luật bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại nơi có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị can nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã chủ động quay lại trụ sở HĐND-UBND huyện để xin lỗi nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[4] Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao, cán bằng gỗ có chiều dài là 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao là 06cm. 01 mảnh vải hình chữ nhật có kích thước 0,38x0,25m, màu xám.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter màu trắng, mang BKS 25B1-003.61.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ủy ban nhân dân huyện S không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự, đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cheo Mý G (là vợ của bị cáo) đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ngoài ra bà không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:

  1. Tuyên bố bị cáo Tẩn A D2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A D2: 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.
  3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao, cán bằng gỗ có chiều dài là 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm, vị trí rộng nhất của lưỡi dao là 06cm. 01 mảnh vải hình chữ nhật có kích thước 0,38 x 0,25m, màu xám. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter màu trắng, mang BKS 25B1-003.61.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 19/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).

  4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà C1 Mý Gấn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện S vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Chi Cục THADS huyện Sìn Hồ;
  • - Công an huyện Sìn Hồ;
  • - UBND huyện Sìn Hồ;
  • - Bà Cheo Mý Gấn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tẩn A Dao phạm tôi gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger