|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 84/HNGĐ-ST Ngày 29/12/2023 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thế Tương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Vũ Thị Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nhật Khánh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 118/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71A/2023/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị O, sinh năm 1982.
Bị đơn: Anh Mai Văn T, sinh năm 1979.
Đều trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Chị O có đơn xin xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án, đơn xin xử vắng mặt, nguyên đơn là chị O trình bày: Chị và anh T tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 18/03/2000. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình nhà anh T ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình . Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh T nghiện ngập, không tu chí làm ăn nên vợ chồng thường xuyên va chạm, luôn bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, chị ở nhà còn anh T sống ngoài chòi ngao. Tuy nhiên gần đây vợ chồng lại chuyển về cùng sống chung nhà nhưng chị nhận thấy tìm cảm vợ chồng không còn mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T để tôi sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị và anh T có 03 con chung là Mai Thị Phương T1, sinh ngày 12/04/2001, Mai Phương T2, sinh ngày 05/6/2007 và Mai Ngọc T3, sinh ngày 23/3/2009. Hiện con chung Mai Thị Phương T1 đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung Mai Phương T2 và Mai Ngọc T3 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh T không đến làm việc, bố đẻ anh T là ông Mai Ngọc T4 xác nhận anh T và chị O kết hôn ngày 18/3/2000 tại Ủy ban nhân dân xã T. Quá trình chung sống vợ chồng anh T chị O có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân xuất phát từ việc anh T nghiện ngập, không tu chí làm ăn nên anh chị xảy ra va chạm, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Anh T và chị O có 03 con chung là Mai Thị Phương T1, sinh ngày 12/04/2001, Mai Phương T2, sinh ngày 05/6/2007 và Mai Ngọc T3, sinh ngày 23/3/2009. Cháu Mai Thị Phương T1 đã trưởng thành và lập gia đình riêng. Cháu Mai Thanh T5 và cháu Mai Ngọc T3 hiện vẫn sống cùng nhà với anh T và chị O. Về tài sản chung: Anh T và chị O có tài sản chung gì ông không nắm rõ; anh T và chị O không vay nợ ai. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết việc ly hôn của anh T và chị O, gia đình đã nhận được các văn bản của Tòa án và thông báo cho anh T biết nhưng do tính chất của công việc nên anh T không sắp xếp được thời gian đến Tòa án làm việc.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều đúng quy định của pháp luật, việc bị đơn đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do là vi phạm nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình xử cho chị O được ly hôn anh T. Về con chung: Chị O và anh T có 03 con chung là cháu Mai Thị Phương T1, sinh ngày 12/4/2001, Mai Phương T2, sinh ngày 05/6/2007 và Mai Ngọc T3, sinh ngày 23/3/2009. Cháu T1 đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường nên không đặt ra giải quyết. Còn hai cháu T2 và Thạch hiện chị O đang chăm sóc nuôi dưỡng, đề nghị giao con chung Mai Phương T2, sinh ngày 05/6/2007 và Mai Ngọc T3, sinh ngày 23/3/2009 cho chị O nuôi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị O không yêu cầu nên cần chấp nhận. Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra giải quyết. Chị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm
Quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xử vắng mặt, chị O vẫn giữ nguyên yêu cầu trên, không thay đổi bổ sung gì. Bị đơn là anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt không đến tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các biên bản xác minh thu thập chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy căn cứ Điều 228, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị O và anh T là hợp pháp, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh T nghiện ngập, không tu chí làm ăn nên vợ chồng thường xuyên va chạm, luôn bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng. Như vậy xác định mục đích hôn nhân của chị O và anh T không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Chị O xin ly hôn anh T là hoàn toàn có căn cứ, vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình xử cho chị O được ly hôn anh T.
[3]. Về con chung: Chị O và anh T có 03 con chung là cháu Mai Thị Phương T1, sinh ngày 12/4/2001, Mai Phương T2, sinh ngày 05/6/2007 và Mai Ngọc T3, sinh ngày 23/3/2009. Cháu T1 đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường nên không đặt ra giải quyết. Còn hai cháu T2 và Thạch hiện do chị O đang chăm sóc nuôi dưỡng, chị O đề nghị được nuôi cả cháu T2 và T3 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T không trình bày nguyện vọng quan điểm về giải quyết con chung, tuy nhiên thực tế anh T không chịu tu chí làm ăn, không có thời gian chăm sóc con chung, các cháu T2 và T3 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét đề nghị của chị O về việc trực tiếp nuôi con chung là có căn cứ nên cần thiết giao cả hai con chung Thủy và T3 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị là sự tự nguyện nên cần chấp nhận.
[4]. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 54, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016 về Án phí, Lệ phí Toà án
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị O được ly hôn anh Mai Văn T.
- Về con chung: Con Mai Thị Phương T1, sinh ngày 12/4/2001 đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết. Giao 02 con chung là Mai Phương T2, sinh ngày 05/6/2007 và Mai Ngọc T3, sinh ngày 23/3/2009 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận chị O không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị, anh T có quyền đi lại thăm nom, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị O đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0005358 ngày 20/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí, chị O đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị O và anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Thế Tương |
Bản án số 84/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 84/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị O và Mai VĂn P
