TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 29-8-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vàng A Kỷ.
2. Ông Triệu Phúc Vượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham
gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên,
tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
87/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn I, sinh năm 1986 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư
trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
học vấn: 08/12; dân tộc: Lào; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông: Lò Văn S (đã chết) và con bà: Lò Thị C (đã chết); vợ: Từ năm
2004 Lò Văn I chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với Lò
Thị C, sinh năm 1987 trú tại bản Nà Luồng, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu và có
02 con chung, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự:
Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 bị áp dụng
biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt tại
phiên tòa.
2. Họ và tên: Lò Văn Đ, sinh năm 1979 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư
trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
học vấn: 02/12; dân tộc: Lào; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông: Lò văn Bun (đã chết) và con bà: Lò Thị S1 (đã chết); vợ: Lò Thị
N, sinh năm 1981; Con: Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ
nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.
1
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 bị áp dụng
biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt tại
phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H – Trợ giúp viên Trung tâm
trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị C, sinh năm 1987.
Trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/3/2024, Lò Văn I điều khiển xe mô tô
biển kiểm soát: 25B1-888.71 đi từ nhà mình sang nhà Lò Văn Đ. Khi gặp Đ, I rủ
Đ đi xuống bản N, xã P, huyện T để tìm mua Heroin cùng nhau sử dụng, lúc này
Đ nói với I là không có tiền nhưng I bảo Đ cứ đi cùng, Đ đồng ý. Sau đó I điều
khiển xe mô tô chở Đ đi đến bản Noong Thăng mục đích để tìm mua Heroin cùng
nhau sử dụng.
Khi đến bản Noong T, Đ nói với I “đoạn này trước hay bán đấy”, thấy vậy I
dừng xe. Lúc này Đ xuống xe và đi thêm một đoạn cách chỗ I dừng xe khoảng 15
mét rồi gặp và nói chuyện với một người đàn ông không rõ lai lịch. Qua trao đổi
Đ hỏi mua Heroin thì người đàn ông này đồng ý bán nên Đ quay lại chỗ I và nói
“Ông này có”. Thấy vậy I lấy ra từ trong người số tiền 1.900.000 đồng của I đưa
cho Đ để Đ mua H1, Đ đồng ý cầm tiền. Sau đó I và Đ cùng nhau đi đến chỗ
người đàn ông Đa vừa nói chuyện để mua H1. Khi gặp người đàn ông này Đ đưa
số tiền 1.900.000 đồng cho người này, người này cầm tiền đi khoảng 05 phút sau
quay lại đưa cho Đ 01 gói Heroin được gói bằng mảnh nilon màu trắng. Sau khi
mua được H1, Đ mở ra trích lấy một ít rồi cùng I sử dụng hết bằng hình thức hít.
Số H1 còn lại Đa chia thành 02 phần sau đó Đ xé lấy mảnh nilon màu trắng ban
đầu gói lại thành 2 gói. Sau đó Đ nhặt 03 mảnh nilon màu hồng gói thêm bên
ngoài 01 gói Heroin rồi cất vào trong túi áo bên phải Đ đang mặc. Gói H1 còn lại
Đ lấy 01 mảnh nilon màu hồng gói thêm một lớp bên ngoài rồi cho vào 01 túi
nilon màu trắng dạng túi zíp do Đa mang theo rồi cất giấu vào gấu áo bên phải
đang mặc, mục đích để mang về cùng nhau sử dụng. Sau đó I điều khiển xe mô tô
chở Đ đi về.
Đến 20 giờ 50 phút cùng ngày khi I và Đ về đến tổ dân phố C, thị trấn T,
huyện T thì Lò Văn I và Lò Văn Đ bị Công an huyện T bắt quả tang về hành vi
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Công an thu giữ trong túi áo bên phải Đa đang
mặc 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh nilon màu trắng và được gói thêm 03
mảnh nilon màu hồng bên ngoài và thu giữ trong gấu áo bên phải đang mặc của
Đ 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh nilon màu trắng và được gói thêm 01
mảnh nilon màu hồng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng dạng túi zíp. Tổng
2
khối lượng 02 gói Heroin thu giữ của In, Đ là 15,69 gam, mục đích để I và Đ
cùng nhau sử dụng và thu giữ của Lò Văn I 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-
888.71, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSX FI, màu sơn đỏ, đen, số khung:
RLHJA3843MY 132297, số máy: JA52E0293427, xe đã qua sử dụng.
Ngày 27/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành thành
lập hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng và trích mẫu giám định. Tại
bản kết luận giám định số 32/KL-TCGĐ ngày 27/3/2024 của người giám định tư
pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn I
và Lò Văn Đ có khối lượng là 15,69 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trích 0,45 gam trong tổng số
15,69 gam chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn I và Lò Văn Đ theo I và Đ
cùng khai nhận là H1 gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 372/KL-KTHS ngày 29/3/20/24 của Phòng K
Công an tỉnh L kết luận: 02 (hai) Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu Mẫu 01; Mẫu
02) gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là:
Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định
các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Bản Cáo trạng số 57/CT -VKS - TU, ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện
Tân Uyên để xét xử Lò Văn I và Lò Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề
nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản
2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn I
mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, xử phạt bị cáo Lò Văn Đ mức án từ
07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án
phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch
thu tiêu hủy: 15,24 gam Heroin, 02 mảnh nilon màu trắng, 04 mảnh nilon màu
hồng, 01 túi nilon màu trắng dạng túi zip và trả lại cho chị Lò Thị C 01 xe mô tô
biển kiểm soát: 25B1-888.71, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSX FI, màu sơn
đỏ, đen, số khung: RLHJA3843MY 132297, số máy: JA52E0293427, xe đã qua
sử dụng.
Người bào chữa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân và các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng
điểm g khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58;
Điều 38 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, miễn hình
phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho các bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét
3
trả lại chiếc xe mô tô kiểm soát: 25B1-888.71, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE
RSX FI, màu sơn đỏ, đen cho chị Lò Thị C.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các bị cáo
đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh
luận gì. Các bị cáo đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không bổ sung
gì thêm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị C trình bày chiếc xe
mô tô bị thu giữ là tài sản riêng của chị do chị tự bỏ tiền ra mua và đăng ký chủ
sở hữu mang tên của chị C, việc bị cáo I sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi
phạm tội thì chị không biết, chị C có nguyện vọng xin lại chiếc xe mô tô trên để
phục vụ việc đi lại của gia đình.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện
T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và
tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Lò Văn I, Lò Văn
Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù
hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết
luận: Hồi 20 giờ 50 phút ngày 27/3/2024 tại tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T,
tỉnh Lai Châu, Lò Văn I và Lò Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói
Heroin có tổng khối lượng 15,69 gam, mục đích để cùng nhau sử dụng thì bị
Công an huyện T phát hiện bắt quả tang.
Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được
hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà
nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng mà đã cố ý
thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ
luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định
của pháp luật.
4
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã
hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia
tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng
nhân dân. Xét thấy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo,
giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lò Văn I, Lò Văn Đ
đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố
cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở
vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có
phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo
quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng
của pháp luật.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Lò Văn I là người khởi
xướng, rủ bị cáo Lò Văn Đ đi mua Heroin, I cũng là người điều khiển xe mô tô
chở Đ và đưa tiền cho Đ đi mua H1 nên phải chịu trách nhiệm với vai trò chính.
Bị cáo Lò Văn Đ là người thực hành tích cực, Đ đã đi cùng I, trực tiếp hỏi và mua
H1 sau đó cầm Heroin cùng I mang về nên các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm
tương xứng với hành vi phạm tội của mình theo quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ
luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo
khó khăn, các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt
bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 15,69 gam Heroin thu giữ của Lò Văn I và Lò Văn Đ đã trích gửi giám
- định 0,45 gam, còn lại 15,24 gam Heroin là chất Nhà nước cấm; 02 mảnh nilon
- màu trắng, 04 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng dạng túi zip là vật
- chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo xét thấy không còn giá trị sử
- dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-888.71, nhãn hiệu Honda, số loại
- WAVE RSX FI, màu sơn đỏ, đen, số khung: RLHJA3843MY 132297, số máy:
- JA52E0293427, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô
- trên là tài sản riêng của chị Lò Thị C do chị C mua, chị C tự trả tiền trả góp hàng
- tháng và đứng tên chủ sở hữu đối với chiếc xe trên, việc bị cáo I dùng chiếc xe
- mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì chị C không biết, do vậy HĐXX xem
- xét trả lại chiếc xe trên cho chị Lò Thị C.
[6] Về án phí: Các bị cáo Lò Văn I, Lò Văn Đ là người dân tộc thiểu số,
5
sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đều xin miễn
án phí nên HĐXX xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố
tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc Heroin Lò Văn I và Lò Văn Đ cùng khai nhận mua của một
người đàn ông không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T. Quá trình
điều tra không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chị Lò Thị C là chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô do Lò Văn I
điều khiển chở Lò Văn Đ đi mua Heroin. Quá trình điều tra xác định việc I dùng
xe của C đi mua Heroin thì C không biết, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an huyện T không đề cập xử lý đối với Lò Thị C là đúng quy định.
Đối với hành vi sử dụng trái phép Heroin của Lò Văn I và Lò Văn Đ, Công
an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái
phép chất ma túy là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Lò Văn I, Lò Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma
túy".
+ Xử phạt bị cáo Lò Văn I 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
27/03/2024
+ Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/03/2024
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình
sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho chị Lò Thị C, sinh năm 1987. Trú tại: Bản N, xã N, huyện T,
tỉnh Lai Châu 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 25B1-888.71, nhãn hiệu Honda,
số loại Wave RSX FI, màu sơn đỏ, đen, số khung RLHJA3843MY132297; số
máy JA52E0293427, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư của Công an huyện T, màu
trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 15,24 gam Heroin, 02 mảnh nilon màu
trắng, 04 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng dạng túi zip. Vật chứng
được niêm phong theo quy định.
6
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 15
giờ 30 phút, ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm
cho các bị cáo Lò Văn I, Lò Văn Đ.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đến Tòa
án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
7
8
9
10
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn I và đồng phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249
