TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 84/2023/HSST Ngày: 27/12/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Bá Thảo ( Nghề nghiệp: Chuyên viên Phòng giáo dục và đào tạo huyện Nghĩa Đàn) và bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị An – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hồ Diên Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 81/2023/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2023 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85 ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Viết Năng: tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày: 08/02/2004; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm Lê Lợi, xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ đảng, đoàn thể: không; Con ông: Lê Viết Liêm - sinh năm 1971 và bà L Thị Tình - sinh năm 1982; Vợ, con: cha có; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: ngày 15/02/2023 bị Công an huyện Quỳ Hợp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 4 năm 2023 đến ngày 05 tháng 9 năm 2023 được tại ngoại. Có mặt.
2. Trương Văn H: tên gọi khác: không; giới tính: nam ; Sinh ngày: 15/09/2002; Nơi đăng ký HKTT: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ Đảng, đoàn thể: không; Con ông Trơng Văn Hớng - sinh năm 1975 và bà V Thị Thảo - sinh năm 1980; Vợ, con: cha có; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2023 đến ngày 15/4/2023 được tại ngoại. Có mặt.
3. Võ Đình Hng: tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày: 29/3/2005; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm Găng, xã Nghĩa Hng, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: thiên chúa giáo; Trình độ văn hoá: 12/12; chức vụ đảng, đoàn thể: không; Con ông: Võ Đình Ngọ - sinh năm 1978 và bà: Lê Thị Hằng sinh năm 1984; Vợ, con: cha có; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 12/4/2023 đến ngày 15/4/2023 được tại ngoại; Có mặt.
4. Vũ Huy Hoàng: tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày: 11/11/2006; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm Tháp Bai, xã Nghĩa Thành, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; chức vụ đảng, đoàn thể: không; Con ông: Vũ Văn Bằng, sinh năm 1986 và bà: Cao Thị Hậu sinh năm 1986; Vợ, con: cha có. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2023 đến ngày 12/4/2023 được tại ngoại; Có mặt.
5. Lương Quang V1: tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày: 29/5/2006; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm Thiết Hều, xã Nghĩa Thành, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Lơng Văn M - sinh năm 1977 và bà: Lang Thị Hiệu - sinh năm 1980; Vợ, con: cha có; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 09/4/2023 đến ngày 12/4/2023 được tại ngoại. Có mặt.
6. Ngô Tròng Bảo: tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày: 27/9/2006; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Tháp Bai, xã Nghĩa Thành, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; chức vụ đảng, đoàn thể: không; Con ông: Ngô Trờng X - sinh năm 1981 và bà: Nguyễn Thị Phương - sinh năm 1986; Vợ, con: cha; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 09/4/2023 đến ngày 12/4/2023 được tại ngoại. Có mặt.
7. Phạm Đình M1: tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày: 29/8/2006; Nơi đăng ký HKTT: Xóm Tháp Bai, xã Nghĩa Thành, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 10/12; chức vụ đảng, đoàn thể: không; Con ông: Phạm Đình Lợi sinh năm 1980 và bà: Đặng Thị Hoàn sinh năm 1982; Vợ, con: cha có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2023 đến ngày 12/4/2023 được tại ngoại; Có mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Võ Huy H1 có bà Cao Thị Hậu s năm 1986 (mẹ đẻ bị cáo); người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Lương Quang V1 có bà Lang Thị H2 sinh năm 1980 (mẹ đẻ bị cáo); Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Ngô Trường B có bà Nguyễn Thị P sinh năm 1986 (mẹ đẻ bị cáo); Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Phạm Đình M1 có ông Phạm Đình L1 sinh năm 1980 (bố đẻ bị cáo); Toàn bộ những người đại diện cho các bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Đình M1, Vũ Huy H3, Ngô Trường B, Lương
Quang V1 có ông Nguyễn Thái Q, trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N, có mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Đức A1, sinh năm 1990 (Có mặt)
Địa chỉ: Khối 3, thị trấn Tân Lạc, huyện Quỳ Châu, Nghệ An - Anh Đậu Anh H4, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện Q, Nghệ An. - Anh Lê Hoàng A2, sinh năm 1985 (có mặt)
Trú tại: Xóm M, xã M, huyện Q, Nghệ An. - Cháu Bùi Hà Tuệ T, sinh ngày 29/7/2008
Trú tại: Xóm D, xã T, huyện Q, Nghệ An. Có mặt
Người đại diện hợp pháp cho cháu Bùi Hà T1 T có anh Bùi Duy S sinh năm 1971. Bố đẻ cháu T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các bị cáo Lê Viết N, Trương Văn H, Vũ Huy H3, Lương Quang V1, Ngô Trường B, Võ Đình H5, Phạm Đình M1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 08/4/2023, Lê Hoàng S1, sinh năm 2006, trú tại xóm M, xã M, huyện Q, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37L1- 706.45 chở Trương Công Q1, sinh năm 2009, trú tại xóm M mới, xã N, huyện Q; Đặng Quốc C, sinh năm 2008, trú tại xóm M, xã M, huyện Q, điều khiển xe máy chở Trương Trung T2, sinh năm 2008, trú tại xóm M, xã M, huyện Q; Lê Huy H6, sinh năm 2008, trú tại xóm X, xã N, huyện N, điều khiển xe máy chở Trần Nhật A3, sinh năm 2008, trú tại xóm X, xã N, huyện N; Nguyễn Hồng Anh V2, sinh năm 2008, trú tại xóm M, xã M, huyện Q, điều khiển xe máy BKS: 37L2- 255.92 chở Trương Gia K, sinh năm 2009, trú tại xóm M, xã M, huyện Q; Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2009, trú tại xóm T, xã M, huyện Q điều khiển xe máy chở Trương Thị Thanh N1, sinh năm 2007, trú tại xóm D, xã M, huyện Q; Lê Quang P1, sinh năm 2006, trú tại xóm M, xã M, huyện Q điều khiển xe máy chở Trương Thị U, sinh năm 2008, trú tại xã T, huyện Q; Đậu Quang N2, sinh năm 2008, trú tại xóm Đ, xã T, huyện Q điều khiển xe máy BKS: 37H1- 386.31 chở Bùi Thị Tuệ T3, sinh năm 2008, trú tại xóm D, xã T, huyện Q đi từ huyện Q theo Quốc lộ D xuống thị xã T chơi, chụp ảnh. Khi nhóm thanh niên huyện Q đi qua đoạn đường thuộc xã N, huyện N thì nhóm của Lê Viết N, sinh năm 2004, Lê Viết T4, sinh năm 2005, đều trú tại xóm L, xã N, huyện N; Võ Đình H5, sinh năm 2005, Trương Văn H, sinh năm 2002 và Nguyễn Thanh Q2, sinh ngày 01/01/2009, đều trú tại xóm G, xã N, huyện N đang ngồi bên đường trước cổng nông trường Tây Hiếu 2, thuộc xã N, huyện N, nhìn thấy nhóm thanh niên huyện Q đi xuống. Khi đi qua đoạn đường thuộc xã N, huyện N thì nhóm Vũ Huy H3, sinh năm 11/11/2006, Ngô Trường B, sinh ngày 27/9/2006 đều trú tại xóm T, xã N, huyện N; L, sinh ngày 29/5/2006, trú
tại xóm T, xã N, huyện N; Vương Đình C1, sinh năm 2006, trú tại xã X, huyện H, Phan Thị Ý L2, sinh năm 2008, trú tại xóm L, xã N, huyện N đang ngồi chơi trước cổng Ủy ban nhân dân xã N cũ thuộc xóm H, xã N, huyện N. Khi nhóm thanh niên huyện Q đi qua có bấm còi trêu nên Ngô Trường B cùng một số người khác nảy sinh ý định chặn đánh nhóm thanh niên huyện Q để cảnh cáo. Khi Ngô Trường B cùng với một số người khác ngồi chơi trước cổng Ủy ban nhân dân xã N cũ thì thấy có một xe máy do hai thanh niên đi từ hướng thị xã T lên Q, nên Vũ Huy H3 tưởng nhóm thanh niên huyện Q đi về. H3 điều khiển xe máy BKS: 37G1- 780.64, chở Ngô Trường B và Lương Quang V1 ngồi sau cầm 03 đoạn gậy từ cành cây keo đuổi theo để đánh hai người thanh niên này. Đuổi đến cây xăng Q3 thuộc xã N, huyện Q thì kịp, nhưng phát hiện không phải nhóm thanh niên Quỳ Hợp mà nhóm của B, H3, V1 chặn để đánh, nên Vũ Huy H3 cùng Ngô Trường B và Lương Quang V1 đi xe máy quay lại thì gặp nhóm của Lê Viết N điều khiển xe máy chở Trương Văn H và Võ Đình H5 đi xe máy đuổi theo nhóm của Ngô Trường B, khi đuổi theo đến cầu Đ giáp ranh giữa xã N và xã N thì kịp nên Lê Viết N hỏi nhóm của Vũ Huy H3 “ Răng mà rệt đánh hắn rứa”, thì Lương Quang V1 nói “ Bọn đó đi xe máy mất dạy, nhà em rệt theo để đánh”. Lê Viết N nói với nhóm của Vũ Huy H3 “đi xuống chờ, khi nào nhóm Quỳ H7 đi về qua thì đuổi lùa lên đây để nhóm của tau cầm đá ném” thì nhóm của H3 đồng ý. Vũ Huy H3 cùng nhóm thanh niên cùng quay lại cổng Ủy ban nhân dân xã N cũ đứng chờ. Lúc này Phạm Đình M1, sinh năm 2006, trú tại xóm T, xã N, huyện N đi xe máy BKS: 37G1- 830.59 chở Võ Thị Hương H8, sinh năm 2006, trú tại xóm C, xã N, huyện N; Phạm Ngọc T5, sinh năm 2004, trú tại xóm T, xã N, huyện N và Trần Huy P2, sinh năm 2006, trú tại xóm L, xã N, huyện N đến gặp nhóm Vũ Huy H3. Nhóm của Vũ Huy H3 kể lại cho Phạm Đình M1 và Phạm Ngọc T5 biết về việc có nhóm thanh niên huyện Q đi về qua thì chặn đánh. Nhóm của Vũ Huy H3 rủ Phạm Đình M1 và Phạm Ngọc T5 chờ nhóm Thanh niên Quỳ Hợp đi về qua chặn đánh thì M1 và T5 đồng ý tham gia. Phạm Đình M1 lấy một đoạn gỗ keo ở sân Ủy ban nhân dân xã N cũ, bẻ đôi thành 02 đoạn gậy dài khoảng 01mét làm hung khí để chặn đánh nhóm thanh niên huyện Q. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, nhóm thanh niên Quỳ H7 đi xe máy về qua cổng Ủy ban nhân dân xã N cũ thì Lương Quang V1 phát hiện nên hô lên “nó đây rồi, đuổi theo”. Vũ Huy H3 điều khiển xe máy chở Lương Quang V1 và Ngô Trường B cầm 02 đoạn gậy gỗ keo. Phạm Đình M1 lấy gậy gỗ keo đưa cho Phạm Ngọc T5 cầm rồi điều khiển xe máy chở T5 đuổi theo. Thấy nhóm thanh niên Nghĩa T6 đi xe máy đuổi theo nhóm thanh niên Quỳ Hợp nên Vương Đình C1 điều khiển xe máy chở Phạm Thị Y L3 và Trần Huy N3 điều khiển xe máy chở Lê Quốc K1 đi xem đánh nhau. Bị đuổi đánh nên nhóm thanh niên huyện Q điều khiển xe máy bỏ chạy nhanh, đi đến đoạn đường thuộc xóm L, xã N, huyện N thì nhóm thanh niên của Lê Viết N đứng chờ sẵn. Thấy nhóm thanh niên huyện Q đi đến nên Võ Đình H5 hô “ném” thì Lê Viết N cầm bụi xả ném về phía nhóm thanh niên Qùy Hợp, sau đó Nguyễn Thanh Q2 và Võ Đình H5 lấy đá, còn Trương Văn H lấy bụi xả ném về phía nhóm thanh niên huyện Q đang điều khiển xe máy chạy qua. Sau đó Lê Viết N đi xe máy chở Trương Văn H và Võ Đình H5 đuổi theo để đánh. Qúa trình đuổi theo thì nhóm của Vũ Huy H3 và nhóm Lê Viết N cách nhóm thanh niên Qùy Hợp khoảng 200m. Quãng đường nhóm thanh niên của Vũ Huy H3 cầm gậy đuổi theo nhóm thanh niên Quỳ H7 khoảng hơn 01 Km. Quãng đường nhóm của Lê Viết N đi xe máy đuổi theo nhóm Quỳ H7 khoảng 600m. Do bị ném đá và bị đuổi, nên Đậu Quang N2 điều khiển xe máy biển kiểm soát: 37H1-386.31 chở Bùi Hà Tuệ T đi nhanh để vượt qua xe máy trong nhóm thanh niên đi cùng. Qúa trình Đậu Quang N2 điều khiển xe máy vượt lên thì xe máy của N2 đâm va vào xe máy do Lê Hoàng S1 điều khiển làm mất lái nên đi sang làn
đường bên trái rồi đâm va vào hông, bên trái xe ô tải BKS: 29C-493.52 chở keo do anh Trần Đức A1, sinh năm 1990, trú tại khối C, thị trấn T, huyện Q điều khiển đi ngược chiều, nên ngã ra đường. Anh Đậu Quang N2 và Bùi Hà T1 T bị thương nặng nằm trên đường nên người dân xung quanh chạy ra đưa đi cấp cứu, sau đó Đậu Quang N2 tử vong trên đường đi cấp cứu. Lê Viết N điều khiển xe máy chở H và H5 đi đến thấy tai nạn nên sợ bỏ chạy về. Phạm Ngọc T5 biết tai nạn vứt 02 đoạn gậy keo ở mép đường gần nơi xảy ra tai nạn, còn Ngô Trường B và Lương Quang V1 cầm gậy đi về vứt ở gần cầu Đ, giáp ranh giữa hai xã N và Nghĩa H9 rồi về nhà. Ngày 09/4/2023, Lê Viết N, Võ Đình H5, Trương Văn H đến cơ quan CSĐT Công an huyện N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Đối với Vũ Huy H3, Phạm Đình M1, Lương Quang V1, Ngô Trường B, cùng ngày 09/4/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra lệnh bắt khẩn cấp.
Khi đuổi đánh nhóm thanh niên huyện Q thì Lương Quang V1 là người trực tiếp hô hào, Vũ Huy H3 điều khiển xe máy chở Lương Quang V1 và Ngô Trường B cầm 02 đoạn gỗ keo, Phạm Đình M1 lấy gậy đưa cho Phạm Ngọc T5 đồng thời chở T5 cầm gậy đuổi theo. Đối với Võ Đình H5 là người hô ném thì N cầm bụi sả ném về phía nhóm thanh niên Quỳ H7, Nguyễn Thanh Q2 và Võ Đình H5 lấy đá ném, H lấy bụi sả ném về phía nhóm thanh niên Quỳ Hợp. Quá trình đuổi đánh thì Lương Quang V1, Ngô Trường B, Phạm Đình M1 sử dụng hung khí là gậy gỗ keo, Q2 và H5 lấy đá để ném đồng thời cả nhóm chửi bới, hò hét. Khi đuổi đánh nhóm của là người tham gia trực tiếp từ đầu, quá trình đuổi đánh thì các bị cáo có sử dụng hung khí là gậy gỗ, đá, chửi bới, hò hét. Thời gian diễn ra vào ban đêm, thời gian dài, địa điểm các đối tượng đuổi đánh nhau là khu vực trung tâm của đoạn đường liên huyện, tập trung đông dân cư nên đã gây mất trật tự trị an, gây tâm lý lo lắng cho nhân dân trong vùng. Vụ việc làm anh Đậu Quang N2 đâm vào xe khác và tử vong, chị Bùi Thị Tuệ T3 bị thương nhẹ từ chối giám định.
Cáo trạng số 79/VKS-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố Lê Viết N, Võ Đình H5, Trương Văn H, Ngô Trường B, Lương Quang V1, Vũ Huy H3, Phạm Đình M1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt đối với các bị cáo như sau:
Xử phạt Lê Viết N từ 24 đến 30 tháng tù; xử phạt Trương Văn H, Võ Đình H5 mỗi bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng; xử phạt Vũ Huy H3, Ngô Trường B, Lương Quang V1 mỗi bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 đến 48 tháng; xử phạt Phạm Đình M1 từ 16 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 32 đến 48 tháng.
Có mặt tại phiên tòa hôm nay, những người bào chữa cho các bị cáo Vũ Huy H3, Lương Quang V1, Ngô Trường B, Phạm Đình M1 trình bày:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thể hiện rõ ràng, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì: khi phạm tội hầu như các bị cáo trong vụ án đang ở độ tuổi vị thành niên, suy nghĩ chưa chín chắn, thời tội phạm, không có tổ chức, chỉ vì mâu thuẫn giản đơn. Các bị cáo có nhân thân tốt, quá trình chuẩn bị xét xử các bị cáo cũng như đại diện
cho các bị cáo đã tích cực bồi thường cho đại diện người có quyền lợi liên quan, người có quyền lợi liên quan làm đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử các bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp giao về cho gia đình cũng như chính quyền địa phương quản lý giáo dục cũng đủ nghiêm để các bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của mình.
Đối với người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Lương Quang V1, Phạm Đình M1, Vũ Huy H3, Ngô Trường B trình bày: Việc con cái của chúng tôi phạm tội thì có pháp luật giáo dục, xử lý. Tuy nhiên vì tuổi đời của các bị cáo còn trẻ, tương lai phía trước đang còn dài. Chính vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đậu Anh H4 trình bày: anh H4 là bố của cháu Đậu Quang N2, người bị tử vong trong vụ việc xảy ra vào ngày 08/4/2023, quá trình điều tra, anh H4 yêu cầu mỗi bị cáo phải bồi thường cho con anh 30.000.000đ. Tính đến thời điểm hiện tại (ngày 29 tháng 11 năm 2023) các bị cáo Lê Viết N, Võ Đình H5, Phạm Đình M1 mỗi bị cáo đã bồi thường cho con anh đủ 30.000.000đ. Có 04 bị cáo còn lại đã bồi thường số tiền như sau: Trương Văn Hảo 20.000.000đ, Vũ Huy H3 5.000.000đ, Lương Quang V1 5.000.000đ, Ngô Trường B 5.000.000đ. Đối với các bị cáo này anh H5 tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải bồi thường cho gia đình anh mỗi bị cáo đủ số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
Đối với ạnh Trần Đức A1 trình bày: Tối ngày 08/4/2023, anh điều khiển xe ô tô tải Biển kiểm soát 29C – 493.52 chở keo lưu thông hướng Q đi T. Khi đi đến Km 46 quốc lộ D thuộc xã N, huyện N, anh Đức A1 điều khiển xe đi trên làn đường bên phải hướng Q - T, xe anh điều khiển với tốc độ khoảng 45km/h. Khoảng 21 giờ cùng ngày anh Đức A1 phát hiện có 06 đến 07 chiếc xe máy đi ngược chiều với xe anh A1, có 04 xe dàn hàng ngang, lạng lách. Có 01 xe máy màu xanh chạy gần xe anh nhất lạng lách nên anh Đức A1 đã rà phanh giảm tốc độ và đánh lái sang phải để đảm bảo an toàn, đúng lúc đó có một xe máy vision màu đỏ đi phía sau vượt lên va quệt với chiếc xe wave alpha phía trước dẫn đến mất lái nên lao vào đâm va vào thành thùng bên trái xe. Anh Đức A1 cho xe dừng lại còn xe máy ngã trượt trên đường. Lúc sau có một tốp nam thanh niên cầm gậy gộc phóng xe máy đến, anh Đức A1 sợ bị đánh nên anh rời khỏi hiện trường. Sau đó tôi nghe tin nam thanh niên va chạm với xe tôi bị thương nặng tử vong. Quá trình điều tra, anh cũng đã xuống nhà nam thanh niên này thắp hương đồng thời hỗ trợ cho gia đình anh H5 số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nhưng anh H5 không nhận vì anh H5 cho rằng anh Đức A1 không gây ra cái chết cho con anh. Tại phiên tòa hôm nay anh Trần Đức A1 cũng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì cho anh cả vì xe của anh không bị thiệt hại gì.
Cháu Bùi Hà Tuệ T trình bày: Hôm xảy ra sự việc, cháu ngồi sau xe của bạn Đậu Quang N2, khi bị nhóm thanh niên của huyện N đuổi thì bạn N2 đã tăng ga vượt lên thì va chạm với xe của bạn Lê Hoàng S1 điều khiển, sau đó xe máy do N2 điều khiển va chạm với xe ô tô do anh Trần Đức A1 chạy hướng ngược lại. Hậu quả cháu Tuệ T bị thương nhẹ còn bạn N2 bị thương nặng sau đó tử vong. Cháu Tuệ T bị thương nhẹ nên không yêu cầu giám định sức khỏe còn về phần dân sự sau này cháu sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
Đối với Phạm Ngọc T5 sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì T5 đi du học nước ngoài. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tách hành vi của Phạm Ngọc T5 ra khi nào bắt được Phạm Ngọc T5 sẽ xử lý sau.
Đối với Phạm Ngọc T5 sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì T5 đi du học nước ngoài. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra lệnh bắt tạm giam nhưng T5 đã đi du học nước ngoài, Cơ quan Điều tra đã tách hành vi của Phạm Ngọc T5 ra khi nào bắt được Phạm Ngọc T5 sẽ xử lý bằng vụ án khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa cho các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng quy kết.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, những người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được vào khoảng 20 giờ ngày 08/04/2023, một nhóm thanh niên huyện Q gồm Lê Hồng S2 điều khiển xe máy chở Trương Công Q1, Đặng Quốc C chở Trương Trung T2, Lê Huy H6 điều khiển xe máy chở Trần Nhật A3, Nguyễn Hồng A4 V2 điều khiển xe máy chở Trương Gia K, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe máy chở Trương Thị Thanh N1, Lê Quang P1 điều khiển xe máy chở Trương Thị U, Đậu Quang N2 điều khiển xe máy chở Bùi Hà Tuệ T đi từ huyện Q xuống thị xã T chơi, chụp ảnh. Khi đi qua địa phận xã N, N, N thì nhóm này nẹt pô xe máy. Thấy vậy, nhóm thanh niên gồm Lê Viết N, Lê Viết T7, Trương Văn H, Võ Đình H5 và nhóm Vũ Huy H3, Ngô Trường B, Lương Quang V1, Vương Đình C1, nảy sinh ý định chặn đánh nên đã bàn nhau chờ nhóm thanh niên Quỳ H7 quay về sẽ đuổi đánh. Khi nhóm thanh niên huyện Q trên đường đi chơi về đến trước trụ sở Ủy ban nhân dân xã N cũ thuộc xã N, huyện N thì bị nhóm của Vũ Huy H3, Ngô Trương B1, Lương Quang V1, Phạm Đình M1 có hành vi đi xe máy cầm theo gậy đuổi để đánh nhóm thanh niên Q. Khi đến đoạn đường trước cổng Nông trường T, thì bị nhóm Lê Viết N, Võ Đình H5 và Trương Văn H chặn ném đá, bụi sả vào nhóm thanh niên Quỳ Hợp đang chạy xe máy trên đường. Sau đó nhóm Vũ Huy H3 với nhóm Lê Viết N đi xe máy cầm theo hung khí, hò hét,
đuổi nhóm thanh niên Q để đánh. Quá trình đuổi đánh, khoảng cách giữa nhóm thanh niên Quỳ H7 và nhóm thanh niên Nghĩa Đàn khoảng 200m. Do bị đuổi đánh và bị ném đá nên nhóm thanh niên Quỳ Hợp bỏ chạy. Đậu Quang N2 điều khiển xe máy chở Bùi Hà T1 T cùng với thanh thiếu niên trong nhóm Quỳ H7 đi xe máy bỏ chạy với tốc độ nhanh. Đậu Quang N2 điều khiển xe máy đâm va vào phía sau xe máy của Lê Hoàng S1 điều khiển đi phía trước, làm cho xe máy Nam điều khiển đi sang bên trái đường, va chạm vào thành xe ô tô tải bên trái, do anh Trần Đức A1 điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả Đậu Quang N2 bị thương và tử vong trên đường đi cấp cứu, Bùi Hà Tuệ T bị thương nhẹ.
Hành vi của các bị cáo diễn ra tại khu vực đường D, trung tâm của xã N, khu vực đông dân cư. Các bị cáo hò hét và dùng xe máy để rượt đuổi và dùng gậy để làm hung khí đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, khi đuổi nhóm thanh niên Q, một người đã điều khiển xe va chạm với xe khác trong nhóm dẫn đến xe của Đậu Quang N2 điều khiển va vào hông xe tải, Nam sau đó bị thương nặng và tử vong. Hành vi của các bị cáo Lê Viết N, Võ Đình H5, Trương Văn H, Vũ Huy H3, Ngô Trường B, Lương Quang V1, Phạm Đình M1 đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến các quy tắc sinh hoạt nơi công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, lành mạnh, quy tắc ứng xử trong cuộc sống, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người dân, gây tâm lý lo lắng cho người dân tham gia giao thông cũng như nơi xảy ra tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục đồng thời phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Với những hành vi như trên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 BLHS là đúng người đúng tội.
Đối với anh Trần Đức A1: chiếc xe tải anh chở keo của anh va chạm với xe máy do cháu Đậu Quang N2 điều khiển thì xe của anh không bị thiệt hại gì nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
Đối với yêu cầu của anh Đậu A5 H5 đại diện hợp pháp cho cháu Đậu Quang N2 trình bày: anh yêu cầu các bị cáo mỗi bị cáo phải bồi thường cho con anh 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng), các bị cáo Lê Viết N, Trương Văn H, Võ Đình H5, Phạm Đình M1 đã bồi thường đủ số tiền trên (do Trương Văn H bồi thường trực tiếp cho anh 20.000.000đ và mẹ bị cáo đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn số tiền 10.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0005105 ngày 08/6/2023). Đối với các bị cáo Vũ Huy H3 đã bồi thường được 10.000.000đ, các bị cáo Lương Quang V1, Ngô Trường B mỗi bị cáo mới bồi thường được cho con anh 5.000.000đ, nay anh yêu cầu ba bị cáo này bồi thường tiếp số tiền còn thiếu đồng thời anh cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, tại phiên tòa các bị cáo H3, V1, B và người đại diện hợp pháp cho các bị cáo chấp nhận yêu cầu này. Ngoài ra Phạm Ngọc T5 cũng đã bồi thường cho con anh số tiền 29.500.000đ (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với cháu Bùi Hà Tuệ T trình bày: Việc cháu đi cùng xe với Đậu Quang N2 rồi té xe bị ngã, việc bị thương của cháu không nặng nên cháu không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật. Các vấn đề yêu cầu bồi thường thì sau này cháu sẽ yêu cầu sau.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Các bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho
gia đình cháu N2, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Viết N có ông bà nội được Nhà nước tặng bằng khen, huy chương kháng chiến, có chú là liệt sỹ, bản thân bị cáo được tặng giấy khen trong học tập năm học 2021 – 2022, Lê Viết N, Võ Đình H5, Trương Văn H sau khi phạm tội đã ra đầu thú; Đại diện cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.
Đối với hành vi của Nguyễn Thanh Q2 tại thời điểm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng thì Q2 chưa đủ16 tuổi nên không bị truy cứu TNHS, Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Phạm Ngọc T5 sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì T5 đi du học nước ngoài. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tách hành vi của Phạm Ngọc T5 ra khi nào bắt được Phạm Ngọc T5 sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Huy N3, Vương Đình C1, Lê Quốc K1, Phan Thị Y L4 và Lê Viết T4: Khi Vũ Huy H3 cùng một số người điều khiển xe máy cầm theo hung khí gậy keo đuổi đánh và chặn ném đá về phía nhóm thanh niên Qùy Hợp, thì N3, C1, K1, L4 và T4 không chuẩn bị, không cầm theo hung khí tham gia đuổi đánh nhóm thanh niên Qùy Hợp. Thấy mọi người đuổi đánh nên Trần Huy N3, Vương Đình C1, Lê Quốc K1, Phan Thị Y L4, Lê Viết T4 có đi xe máy theo để xem nên không đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Đối với Lê Duy H10, Trần Nhật A3, Trương Công Q1, Lê Hoàng S1, Bùi Hà Tuệ T, Nguyễn Văn Đ1, Trương Thị Thanh N1, Lê Quang P1, Trương Thị U, Trương Gia K, Nguyễn Hồng Anh V2, Trương Trung T2 và Đặng Quốc C có hành vi điều khiển xe máy đi từ huyện Q xuống thị xã T chơi nhưng chưa có giấy phép lái xe. Cơ quan CSĐT Công an huyện N làm việc và giao các đối tượng trên cho gia đình quản lý, giáo dục.
Đối với anh Đậu Anh H4 là bố đẻ của Đậu Quang N2. Quá trình N2 lấy xe máy đi chơi cùng với bạn, anh H4 không ở nhà và cũng không biết N2 lấy xe máy đi chơi bị tai nạn nên anh H4 không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng vụ án:
01 chiếc xe mô tô nhãn hiêu Honda, loại xe Vision, sơn màu đỏ nâu đen. Biển kiểm soát 37Hl- 386.31. Số máy JF86E5016510, số khung 5838KZ446510, xe bị hư hỏng một số bộ phận do tai nạn giao thông. Xe đã qua sử dụng, xe được tạm giữ tại hiện trường nơi xảy ra vụ án. Đây là tài sản của anh Đậu Anh H4, sinh năm 1980, trú xóm Đ, xã N, huyện Q, nên cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho anh Đậu Anh H4.
- 01 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu T, loại xe DFM, màu bạc, biển kiểm soát 29C- 493.52. Xe đã qua sử dụng, xe được tạm giữ tại hiện trường nơi xảy ra vụ án. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của anh Trần Đức A1, sinh năm 1990, trú tại khối C, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nên cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho anh Trần Đức A1.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave &, màu đen bạc, biển kiểm soát 37L1-70645. Xe đã qua sử dụng, xe được tạm giữ do Lê Hoàng S1 giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Lê Hoàng A2, sinh năm 1985, trú tại xóm M, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nên cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho anh Lê Hoàng A2.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave &, màu đen bạc, biển kiểm soát 37L1-70645. Xe đã qua sử dụng, xe được tạm giữ do chị Cao Thị H11 giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị Cao Thị H11, sinh năm 1985, trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, nên cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho chị Cao Thị H11.
- 02 bụi sả đã khô không có hình dạng nhất định, bụi sả thứ nhất có kích thước 27cm x 18cm x 14,4cm, bụi sả thứ hai có kích thước 20cm x 24,5cm x 14,2cm, được thu giữ trong quá trình truy tìm vật chứng không có giá trị sử dụng nên tuyên tiêu hủy.
- 03 hòn vựa đá và xi măng bị vỡ không có hình dạng nhất định, hòn thứ nhất có kích thước 08cm x 06cm x 03cm. Hòn thứ hai có kích thước 6,2cm x 06cm x 3,2cm, hòn thứ ba có kích thước 08cm x 09cm x 5,5cm, được thu giữ trong quá trình truy tìm vật chứng không có giá trị sử dụng nên tuyên tiêu hủy.
- 01 đoạn gậy làm bằng cây keo khô dài 1,39m, đường kính trung bình ở giữa 4,5cm, một dầu gốc gãy có vết chặt vát sau đó bẻ gãy bằng, một đầu ngọn bị bẻ gãy tước được thu giữ trong quá trình truy tìm vật chứng không có giá trị sử dụng nên tuyên tiêu hủy.
- 01 đoạn gậy làm bằng cây keo khô dài 1,69m, đường kính trung bình ở giữa 4cm, một đầu gốc gậy bị bẻ gãy tước, một đầu ngọn gậy bị chặt vát nhọn, được thu giữ trong quá trình truy tìm vật chứng không có giá trị sử dụng nên tuyên tiêu hủy.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thấy rằng đây là vụ án gây rối trật tự công cộng có đồng phạm, tuy nhiên đồng phạm của các bị cáo không có tổ chức, không cấu kết chặt chẽ mà do bột phát. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đặc biệt trong vụ án này có 04 bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, lứa tuổi dễ bị lôi kéo, kích động, tò mò, không làm chủ được bản thân. Để đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, Hội đồng xét xử xem xét về khả năng nhận thức, điều kiện, hoàn cảnh để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vừa đủ sức răn đe đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét vị trí vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Vũ Huy H3, Ngô Trường B là người khởi xướng, M1 là người chuẩn bị gậy gỗ keo, V1 và H4 là người hô hào nên những người này giữ vai trò chính nên cần phải xét xử nghiêm minh.
Đối với bị cáo Lê Viết N phạm tội khi đang có tiền sự vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, các bị cáo còn lại xử phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với các bị cáo Vũ Huy H3, Lương Quang V1, Ngô Trường B và người đại diện hợp pháp cho các bị cáo này chấp nhận bồi thường cho người có quyền lợi liên quan nên buộc các bị cáo trên tiếp tục bồi thường số tiền còn lại.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Vũ Huy H3, Ngô Trường B, Lương Quang V1, Lê Viết N, Võ Đình H5, Trương Văn H, Phạm Đình M1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 điều 318, điểm s, b khoản 1, 2 điều 51; điều 90, điều 91, điều 101, điều 58, điều 54, điều 65 của Bộ luật hình sự đối với Lương Quang V1, Vũ Huy H3, Ngô Trường B, Phạm Đình M1
Áp dụng điểm b khoản 2 điều 318, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; điều 58, điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Viết N.
Áp dụng điểm b khoản 2 điều 318, điểm s khoản 1, 2 điều 51; điều 58, điều 54, điều 65 BLHS đối với Võ Đình H5, Trương Văn H.
Xử phạt bị cáo Lê Viết N 24 (hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2023 đến ngày 05/9/2023.
Xử phạt bị cáo Trương Văn H 20 (hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 (bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho UBND xã N giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Vũ Huy H3 16 (mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Lương Quang V1 16 (mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Ngô Trường B 16 (mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Võ Đình H5 22 (hai mươi hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 44 (bốn mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Phạm Đình M1 17 (mười bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 34 (ba mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 điều 65 – BLHS năm 2015.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 106 BLTTHS: tuyên tịch thu tiêu hủy:
- 02 bụi sả đã khô không có hình dạng nhất định, bụi sả thứ nhất có kích thước 27cm x 18cm x 14,4cm, bụi sả thứ hai có kích thước 20cm x 24,5cm x 14,2cm.
- 03 hòn vựa đá và xi măng bị vỡ không có hình dạng nhất định, hòn thứ nhất có kích thước 08cm x 06cm x 03cm, hòn thứ hai có kích thước 6,2cm x 06cm x 3,2cm, hòn thứ ba có kích thước 08cm x 09cm x 5,5cm.
- 01 đoạn gậy làm bằng cây keo khô dài 1,39m, đường kính trung bình ở giữa 4,5cm, một dầu gốc gãy có vết chặt vát sau đó bẻ gãy bằng, một dầu ngọn gãy bị bẻ gãy.
- 01 đoạn gậy làm bằng cây keo khô dài 1,69m, đường kính trung bình ở giữa 4cm, một đầu gốc gậy bị bẻ gãy tước, một đầu ngọn gậy bị chặt vát nhọn.
Đặc điểm cụ thể của vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra Công an huyện N và Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Nghĩa Đàn ngày 07 tháng 11 năm 2022.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 585, 585, 586, 587, 591 Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo và người đại diện hợp pháp cho các bị cáo bồi thường số tiền còn lại cho anh Đậu A5 H5 như sau: Bị cáo Vũ Huy H3 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng); bị cáo Lương Quang V1 25.000.000đ (hai lăm triệu đồng); bị cáo Ngô Trường B 25.000.000đ (hai lăm triệu đồng).
Đối với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) chị Võ Thị T8 mẹ đẻ của Trương Văn H đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghĩa Đàn theo biên lai thu tiền số 0005105 ngày 08 tháng 6 năm 2023 là tiền chị T8 nộp thay cho Trương Văn H, anh Đậu Anh H4 đến tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghĩa Đàn để làm thủ tục nhận số tiền này.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Ngô Trường B, Vũ Huy H3, Lê Viết N, Phạm Đình M1, Trương Văn H, Võ Đình H5, Lương Quang V1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Huy H3 phải chịu 1.000.000đ (một triệu đồng), bị cáo Lương Quang V1 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo Ngô Trường B 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí DSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện cho các bị cáo Ngô Trường B, Lương Quang V1, Phạm Đình M1, Vũ Huy H3, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Quang Sơn |
Bản án số 84/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN về gây rối trật tự công cộng (criminal case)
- Số bản án: 84/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
