Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28/11/2023

V/v: “ Ly hôn, Tranh chấp về

nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hanh

Ông Lê Thanh Miện

Thư ký phiên toà: Ông Thân Văn Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 274/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/QĐXX ST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị T, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

HKTT: Thôn Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở: thôn Ngọc Thành 2, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Chị T và anh S đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 15/8/2023; bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị là chị Đào Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn S kết hôn với nhau vào ngày 01/9/2010 trước khi kết hôn vợ chồng có được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại trụ sở Ủy Ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng đoàn tụ ngay và chung sống hạnh phúc đên đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống về cả làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái, vợ chồng thường xuyên đánh cãi, chửi nhau. Chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ 30/4/2021 đến nay. Từ khi chị bỏ về nhà mẹ đẻ thì anh S không lên đón chị về, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình tiến hành hòa giải nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Văn S không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có ba con chung là: Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 19/9/2011; Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 25/9/2013 và Nguyễn Khánh D, sinh ngày 01/9/2018, hiện nay cả ba con chung đều đang ở với anh S. Do điều kiện công việc chị phải đi làm ăn xa, chỗ ở phải thuê mà các con đang trong độ tuổi đến trường. Vì thế, anh S có trao đổi với chị về việc nuôi dạy các con sau khi vợ chồng ly hôn nên chị đồng ý giao ba con chung cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất và các quan hệ khác: Ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn S trong biên bản tự khai và trong biên bản làm việc với cán bộ Tòa án trình bày: Anh và chị T kết hôn với nhau ngày 01/9/2010 trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng đoàn tụ ngay và chung sống cùng gia đình nhà anh ngay. Cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống về làm ăn kinh tế nên tình cảm vợ chồng không còn. Chị T bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ năm 2021 đến nay, vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị T không còn. Chị T xin ly hôn thì anh đồng ý. Do anh có công việc bận nên anh có làm đơn xin được xét xử văng mặt.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng có ba con chung là: Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 19/9/2011; Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 25/9/2013 và Nguyễn Khánh D, sinh ngày 01/9/2018, hiện nay cả ba con chung đều đang ở với anh. Ly hôn, vì chị T đi làm ăn xa nên vợ chồng thỏa thuận để anh tiếp tục nuôi dưỡng cả ba con chung. Anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Anh xác định hiện nay anh làm nghề tự do, thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/tháng và anh bố con anh đang ở cùng bố mẹ anh nên có đủ điều kiện để chăm sóc ba con.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, nhà ở, quyền sử dụng đất và các vấn đề khác: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng,đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273; của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn S

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn S được trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung vợ chồng có ba con chung là: Cháu Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 19/9/2011; Cháu Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 25/9/2013 và Cháu Nguyễn Khánh D, sinh ngày 01/9/2018

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh S cho nhau cho đến khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Buộc chị T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm

Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự được biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Xét đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn chị Đào Thị T xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự anh Nguyễn Văn S có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang theo quy định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của bị đơn là anh Nguyễn Văn S tại phiên tòa nhưng đã được tòa án triệu tập hợp lệ đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án là có căn cứ.

[2].Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T và anh S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị T và anh S đều xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng đã ly thần từ năm 2021 đến nay nhưng không có biện pháp để vợ chồng về đoàn tụ. Chị T và anh S đều xác định tình cảm vợ chồng đến nay đã không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết để vợ chồng ly hôn và anh S Đồng ý. Điều này chứng tỏ mâu muẫn vợ chồng giữa chị T và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần xử cho chị T được ly hôn anh S theo quy định tại Điều 56 – Luật Hôn nhân và gia đình là có căn cứ.

[3]. Về con chung: Chị T và anh S cùng xác định vợ chồng có 03 con chung là vợ chồng có ba con chung là: Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 19/9/2011; Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 25/9/2013 và Nguyễn Khánh D, sinh ngày 01/9/2018, hiện nay cả ba con chung đều đang ở với anh S. Ly hôn, anh S và chị T cùng thống nhất và thỏa thuận để anh Nguyễn Văn S nuôi dưỡng cả ba con chung vợ chồng là: Cháu Nguyễn thị Thùy T2, sinh ngày 19/9/2011; Cháu Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 25/9/2013 và Cháu Nguyễn Khánh D, sinh ngày 01/9/2018. Hơn nữa, cháu T2 và cháu H đều có nguyện vọng ở với bố. Hơn nữa, chị T lại thường xuyên phải đi làm ăn xa, không có điều kiện chăm sóc con chung nên việc chị S đồng ý giao ba con chung cho anh S là có căn cứ. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh S và chị T cùng không yêu cầu nên HĐXX không có căn cứ xem xét.

[5]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất, ruộng đất và các quan hệ khác: Chị T và anh S cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên Hội đồng xét xử không xem xét là có căn cứ.

[6]. Về án phí: Chị Đào Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35; Điều 147, Điều 227; 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Đào Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

Về con chung: Giao anh Nguyễn Văn S được nuôi dưỡng cả ba con chung là cháu Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 19/9/2011; cháu Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 25/9/2013 và cháu Nguyễn Khánh D, sinh ngày 01/9/2018. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh S cho đến khi đương sự có yêu cầu.

Sau khi ly hôn chị Đào Thị T và anh Nguyễn Văn S có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở chị T và anh S thực hiện quyền này.

Trong trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức được quy định khoản 5 Điều 84 – Luật Hôn nhân gia đinh năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: chị Đào Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000273 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác định chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát ND H.Hiệp Hòa;
  • - Chi cục THA DS H. Hiệp Hòa;
  • - Ủy ban nhân dân xã Đồng Tân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 84/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THÚY- SĨ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger