TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Hùng và ông Doãn Đức Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vòng Nhục L, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Tổ B, khu phố G, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Bùi Hồng D, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu và lời khai trong hồ sơ, thì thấy nguyên đơn bà V Nhục Lìn trình bày: Bà và ông Bùi Hồng D tự nguyện thương yêu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 15/11/2022. Vợ chồng có 01 con chung là Bùi Đức Khôi N, sinh ngày 07/3/2023.
Quá trình chung sống bà và ông D phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, không có tiếng nói chung, ông D không tôn trọng bà, bà và ông D đã ly thân từ tháng 12/2023, đến nay tình cảm không còn nữa, không còn sự quan tâm, chăm sóc cho nhau, nên bà tha thiết được ly hôn với ông D. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con, bà đủ khả năng chăm sóc tốt cho con, bà không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung bà không yêu cầu giải quyết. Nợ chung không có.
Bị đơn ông Bùi Hồng D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà V Nhục Lìn được ly hôn với ông Bùi Hồng D; Về con chung giao cháu Bùi Đức Khôi N, sinh ngày 07/3/2023 cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu. Tài sản chung các đương sự không yêu cầu, nợ chung không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu của bà L là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” với ông Bùi Hồng D, sinh năm 1998, địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại biên bản tống đạt Thông báo về phiên họp việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/3/2024, thể hiện: Ông Bùi Hồng D, sinh năm 1998 đang sinh sống tại địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Tại phiên tòa, ông Bùi Hồng D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, bà Vòng N1 Lìn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng. Căn cứ theo quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Xét các yêu cầu của bà L:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Bà L và ông D tự nguyên kết hôn, có đăng ký kết hôn tại tại UBND phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 15/11/2022 theo đúng quy định tại điều 9 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014, không vi phạm các điều kiện kết hôn quy định tại điều 8 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014, nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét mâu thuẫn giữa bà L và ông D thì thấy: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần động viên bà L suy nghĩ về đoàn tụ vợ chồng nhưng bà L không đồng ý đoàn tụ, kiên quyết xin ly hôn với ông D và trình bày bà và ông D thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi nhau, đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn, bà và ông D đã sống ly thân từ tháng 12/2023, việc ai người đó làm, tình cảm không còn. Bên cạnh đó, ông D đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thu lý vụ án và các văn bản tố tụng khác để đến tòa án làm việc, nhưng ông D không có văn bản trình bày ý kiến cũng như đến tòa án để làm việc, chứng tỏ ông D không có thiện chí trong việc hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng nữa.
Từ đó, khẳng định mâu thuẫn giữa bà L và ông D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân & gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu của bà L, cho bà L được ly hôn với ông Bùi Hồng D.
[2.2] Về con chung: Theo trình bày của bà L và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện, bà L và ông D có 01 con chung là Bùi Đức Khôi N, sinh ngày 07/3/2023. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con, bà cam kết chăm sóc tốt cho con, ông D không có ý kiến gì. Xét thấy, để đảm bảo quyền lợi cho cháu N, cần chấp nhận yêu cầu của bà L, giao cho bà L được trược tiếp nuôi dưỡng 01 con là Bùi Đức Khôi N.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do bà L không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con cho bà L.
[2.3] Về tài sản chung: Bà L và ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: Bà L trình bày không có, ông D không có ý kiến gì. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.4] Về án phí: Bà L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
[3] Ý kiến nhận định của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 5, 28, 91, 92, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Vòng Nhục L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vòng Nhục L được ly hôn với ông Bùi Hồng D.
- Về con chung: Giao cho bà V Nhục Lìn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 (một) con chung là Bùi Đức Khôi N, sinh ngày 07/3/2023.
- Tạm thời ông Bùi Hồng D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bà L.
- Không ai được cản trở quyền thăm nom con chung của ông Bùi Hồng D.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Bà L và ông D không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà L trình bày không có và ông D không có ý kiến gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Vòng Nhục L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về việc ly hôn, chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu số 0006479 ngày 16/01/2024 qua nộp án phí.
Báo cho bà L và ông D biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Phúc |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
