|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 84/2024/HNGĐ -ST Ngày 28/5/2024. V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Thanh Tồn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước;
- Bà Dương Thị Tú Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 375/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QÐST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2024/QÐST-DS ngày 07/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị La Thị Tiểu M, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị La Thị Tiểu M trình bày: Chị với anh Trần Văn T làm đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào ngày 26/7/2020, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/5/2021 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P. Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh có 01 người con tên Trần La Đăng K, sinh ngày 20/5/2021, hiện đang sống với chị; không có con riêng hoặc con nuôi. Về tài sản chung, nợ chung chị và anh có 11 chỉ vàng 24k, 01 sợi dây chuyền có trọng lượng 1,5 chỉ vàng 18K và 01 chiếc lắc 07 phân vàng 18k, hiện đang cho mẹ chồng bà Nguyễn Thị T1 mượn. Về nợ chung không có, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay chị M yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn T, yêu cầu nuôi con tên Trần La Đăng K, sinh ngày 20/5/2021, yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định pháp luật; theo đơn khởi kiện chị yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 trả riêng cho chị 11 chỉ vàng 24k, 01 sợi dây chuyền và 01 tấm lắc, nay chị thay đổi yêu cầu khởi kiện chị yêu cầu bà T1 trả cho vợ chồng chị 1 chỉ vàng 24k, 01 sợi dây chuyền có trọng lượng 1,5 chỉ vàng 18K và 01 chiếc lắc 07 phân vàng 18k để chị yêu cầu Tòa án chia theo quy định pháp luật; về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt mặc dù được Tòa án nhân dân huyện Phước Long triệu tập hợp lệ nhiều lần nên không có lời khai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 có lời khai trình bày: Bà thừa nhận trước đây bà có giữ của La Thị Tiểu M và Trần Văn T 11 chỉ vàng 24k, 01 sợi dây chuyền có trọng lượng 1,5 chỉ vàng 18K và 01 chiếc lắc 07 phân vàng 18k, nhưng khi M sinh con do tôi không có tiền nên bà đã bán 11 chỉ vàng 24k để lo chi phí cho M như tiền sửa, tiền tã,..., còn lại 01 sợi dây chuyền trọng lượng 1,5 chỉ vàng 18k do bà mua cho cháu nội tên Trần La Đăng K trong ngày đầy tháng nên nay bà lấy lại, 01 tấm lắc 07 phân vàng 18k là do T mua cho cháu K trong ngày đầy tháng hiện nay bà đang giữ. Nay bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của La Thị Tiểu M.
Đại diện của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đúng theo quy định của luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành quy định của khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
- + Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử, chấp nhận yêu câu khởi kiện ly hôn của chị La Thị Tiểu M, cho chị M được ly hôn với anh Trần Văn T.
- + Về con chung: Đề nghị căn cứ vào khoản 2 và 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu Trần La Đăng K, sinh ngày 20/5/2021 cho chị M tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; anh T có quyền tới lui thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, căn cứ khoản 2 Điều 82 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình buộc anh Trần Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung là Trần La Đăng K, sinh ngày 20/5/2021 mỗi tháng 900.000 đồng/tháng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi. Về đòi lại tài sản: đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu của chị M. Buộc bà T1 có nghĩa vụ trả cho chị M và anh T số vàng là 11 chỉ vàng 24k và 2,2 chỉ vàng 18k. Tài sản chung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của chị M. Chị M được hưởng 5,5 chỉ vàng 24k và 1,1 chỉ vàng 18k; anh T được hưởng 5,5 chỉ vàng 24k và 1,1 chỉ vàng 18k. Do đó, buộc bà T1 có nghĩa vụ trả cho chị M 5,5 chỉ vàng 24k và 1,1 chỉ vàng 18k; trả cho anh T số vàng là 5,5 chỉ vàng 24k và 1,1 chỉ vàng 18k. Án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị La Thị Tiểu M kiện anh Trần Văn T về việc Hôn nhân gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu và Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 28; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khi thụ lý vụ án chị M yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con và đòi lại tài sản, quá trình giải quyết vụ án chị M có thay đổi yêu cầu khởi kiện nên được xác định lại quan hệ tranh chấp là vụ án ly hôn, nuôi con và yêu cầu chia tài sản chung. Anh T, bà T1 vắng mặt lần 2 tại phiên xét xử nên việc xét xử vắng mặt anh T và bà T1 là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị La Thị Tiểu M xác định, chị với anh Trần Văn T có làm đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào ngày 26/7/2020, có đăng ký kết hôn. Tại giấy đăng ký kết hôn ngày 08/5/2021 thể hiện chị M và anh T có đăng ký kết hôn vào ngày 08/5/2021 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị M và anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay chị M yêu cầu ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn về hôn nhân của chị M và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, theo lời khai của chị M thì chị và anh T không còn sống chung từ tháng 10 năm 2023 đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị La Thị Tiểu M, cho chị M được ly hôn với anh Trần Văn T.
[3] Về con chung: Theo lời khai của chị M và giấy khai sinh do chị M cung cấp thì chị và anh T có 01 người con tên Trần La Đăng K, sinh ngày 20/5/2021, hiện đang sống với chị M, khi ly hôn chị M có yêu cầu được tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật. Xét thấy, cháu K tính đến ngày xét xử vụ án chưa được 36 tháng tuổi, cháu đang sống ổn định với chị M, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu Trần La Đăng K, sinh ngày 20/5/2021 cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về cấp dưỡng nuôi con do anh T không trực tiếp nuôi con, chị M có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật nên buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi cháu K với mức 900.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày 23/11/2023 cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi; Anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trỡ.
[4] Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện chị M yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 trả riêng cho chị 11 chỉ vàng 24k, 01 sợi dây chuyền và 01 tấm lắc, nay chị thay đổi yêu cầu khởi kiện chị yêu cầu bà T1 trả cho vợ chồng chị 1 chỉ vàng 24k, 01 sợi dây chuyền có trọng lượng 1,5 chỉ vàng 18K và 01 chiếc lắc 07 phân vàng 18k để chị yêu cầu Tòa án chia theo quy định pháp luật. Tại lời khai ngày 18/12/2023 (bút lục 23-24) bà Nguyễn Thị T1 thừa nhận hiện tại bà đang giữ các tài sản của chị M và anh T như lời trình bày của chị M nhưng bà không đồng ý giao trả lại. Xét thấy, lời thừa nhận của bà Thủy T1 là tài liệu, chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo bà T1 trình bày khi chị M sinh con do bà không có tiền nên bà đã bán 11 chỉ vàng 24k để lo chi phí cho M như tiền sửa, tiền tã,...nhưng phía chị M không thừa nhận, bà T1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho lời khai trên, vã lại trong vụ án này bà cũng không có yêu cầu chị M, anh T hoàn trả các khoản tiền như bà trình bày, còn lại 01 sợi dây chuyền trọng lượng 1,5 chỉ vàng 18k do bà mua cho cháu nội tên Trần La Đăng K trong ngày đầy tháng nên nay bà lấy lại, 01 tấm lắc 07 phân vàng 18k là do T mua cho cháu K trong ngày đầy tháng hiện nay bà đang giữ. Xét thấy, việc bà tặng cho cháu K 01 sợi dây chuyền 1,5 chỉ vàng 18k và anh T tặng cho cháu K 01 tấm lắc 07 phân vàng 18k là đã hoàn thành nhưng do cháu còn nhỏ nên đây được xem là tài sản chung của chị M và anh T. Nay chị M có yêu cầu bà T1 trả lại số tài sản trên và có yêu cầu chia tài sản chung theo quy định pháp luật nên được chấp nhận. Buộc bà T1 có nghĩa vụ trả cho chị M và anh T số vàng là 11 chỉ vàng 24k và 2,2 chỉ vàng 18k. Chia cho chị M được hưởng 5,5 chỉ vàng 24k và 1,1 chỉ vàng 18k; chia cho anh T được hưởng 5,5 chỉ vàng 24k và 1,1 chỉ vàng 18k. Do đó, buộc bà T1 có nghĩa vụ trả cho chị M 5,5 chỉ vàng 24k và 1,1 chỉ vàng 18k; trả cho anh T số vàng là 5,5 chỉ vàng 24k và 1,1 chỉ vàng 18k.
[5] Về án phí xét xử hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị M, anh T, bà T1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35 và Điều 39 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị La Thị Tiểu M, cho chị M được ly hôn với anh Trần Văn T.
- Về con chung: tiếp tục giao cháu Trần La Đăng K, sinh ngày 20/5/2021 cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về cấp dưỡng, buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi cháu K với mức 900.000 đồng/1 tháng, thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày 23/11/2023 cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi; Anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trỡ.
- Về tài sản chung và nợ chung: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M đòi bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ trả cho chị M, anh T 11 (Mười một) chỉ vàng 24k và 2,2 (Hai phẩy hai) chỉ vàng 18k. Chia cho chị M 5,5 (Năm phẩy năm) chỉ vàng 24k và 1,1 (Một phẩy một) chỉ vàng 18k; cho anh T 5,5 (Năm phẩy năm) chỉ vàng 24k và 1,1 (Một phẩy một) chỉ vàng 18k. Buộc bà T1 có nghĩa vụ trả cho chị M 5,5 (Năm phẩy năm) chỉ vàng 24k và 1,1 (Một phẩy một) chỉ vàng 18k, trả cho anh T 5,5 (Năm phẩy năm) chỉ vàng 24k và 1,1 (Một phẩy một) chỉ vàng 18k.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc bà Nguyễn Thị T1 phải số tiền 4.730.330 đ (Bốn triệu bảy trăm ba chục nghìn ba trăm ba mươi ba đồng); buộc anh T phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng và số tiền 2.365.165 đ (Hai triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm sáu mươi lăm đồng) tiền án phí có giá ngạch trên số tài sản anh được chia; buộc chị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân, gia đình và số tiền 2.365.165 đ (Hai triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm sáu mươi lăm đồng) tiền án phí có giá ngạch trên số tài sản chị được chia, tổng cộng số tiền 2.665.165 đ (Hai triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm sáu mươi lăm đồng), nhưng chị M đã nộp tạm ứng án phí 1.700.000 đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006416 ngày 22 tháng 11 năm 2023 được chuyển thu án phí, chị M có nghĩa vụ nộp tiếp số tiền 965.165 đ (Chín trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm sáu mươi lăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm dân sự công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Quách Thanh Tồn |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị My yêu cầu ly hôn với anh Toàn
