Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày 27-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Nguyễn Văn Cho

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị N, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1987 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H; chồng Ngô Văn T1; con có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 29/7/2010, bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 5.000.000 đồng về tội Đánh bạc tại Bản án số 33/2010/HSST; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Thị S, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1975 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 2/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn K (chết) và bà Nguyễn Thị B; chồng Nguyễn Văn N1; con có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: không; tiền sự: Ngày 11/9/2023, bị Công an xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi tham gia đánh bạc trái phép tại Quyết định số 14/QĐ-XPHC; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Võ Mỹ L, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Ngô Thị N2, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1998. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Trương Thị Á, sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Nguyễn Thị N3, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Đào Thị O, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • + Lê Thị T2, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 18/02/2024, Trần Thị S đi lên phần đất trên bờ vuông tôm của bà Võ Mỹ L thuộc ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài ngầu hầm (loại bài tây 52 lá), mỗi tụ đặt từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng, mỗi người tham gia đặt tụ, làm cái xoay vòng, mỗi vòng 03 ván thì đến lượt người khác làm cái. Bà Võ Mỹ L là người chuẩn bị địa điểm, bài tây, chiếu để phục vụ cho việc đánh bạc và lấy tiền xâu 10.000 đồng mỗi ván nhưng không trực tiếp tham gia đánh bạc. Những người tham gia đánh bạc gồm Trần Thị S, Ngô Thị N2, Phạm Thị Mỹ DNguyễn Thị N. Đến khoảng 14 giờ 32 phút cùng ngày, khi bà Võ Mỹ L thu tiền xâu được 200.000 đồng thì Lực lượng Công an huyện A kết hợp với Công an xã T bắt quả tang, thu giữ 05 (năm) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng, 01 (một) chiếc chiếu dùng để đánh bạc, tiền Việt Nam 230.000 đồng trên chiếu bạc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, những người bị bắt quả tang thừa nhận tham gia đánh bạc, khai nhận kết quả thắng - thua cụ thể như sau: Trần Thị S tham gia đánh bạc đến khi bị bắt quả tang thua 130.000 đồng, Ngô Thị N2 thắng 120.000 đồng, Phạm Thị Mỹ D thắng 100.000 đồng, Nguyễn Thị N thắng 01 ván 50.000 đồng, thua 01 ván 50.000 đồng.

Ngày 10/9/2023, Trần Thị S thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài ăn thua bằng tiền tại ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Ngày 11/9/2023, Công an xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC đối với Trần Thị S bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, chưa được xóa tiền sự.

Ngoài ra, Nguyễn Thị N còn tự thú về hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề vào ngày 09/02/2024 và ngày 17/02/2024, tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng dùng vào việc bán số lô, số đề trước đó.

Nguyễn Thị N tự làm thầu và trực tiếp bán số lô, số đề tại nhà thuộc ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang dựa theo kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày của các tỉnh Miền Nam, Miền T3, Miền B bằng hình thức trực tiếp hoặc qua điện thoại. Nguyễn Thị N thực hiện bán số đầu (là hai con số của giải tám - giải trúng thưởng đầu tiên của kỳ quay số với 02 chữ số), số đuôi (là hai con số cuối của giải đặc biệt) và số lô (là hai con số cuối của tất cả các giải trúng thưởng), tỷ lệ mua mỗi con số 1.000 đồng, trúng được 80.000 đồng. Đối với người mua số bao lô các đài M, Miền T3 thì mỗi con số mua 1.000 đồng thì phải trả cho N 15.000 đồng, đối với số bao lô đài Miền Bắc thì mỗi con số mua 1.000 đồng thì phải trả cho N 23.000 đồng. Riêng đối với các con số đá 02 con (01 cặp số đá) thì mua 1.000 đồng phải trả 46.000 đồng, nếu trúng thưởng 1.000 đồng thì N phải trả thưởng 600.000 đồng. Cụ thể các ngày Nguyễn Thị N bán số đề, số lô như sau:

  • - Ngày 09/02/2024, Nguyễn Thị N bán số đầu, số đuôi, số lô, số đá theo kết quả xổ số kiến thiết Miền Nam gồm các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Bình Dương cho bà Trương Thị Á được 155.000 đồng; bán cho bà Nguyễn Thị N3 được 2.295.000 đồng; bán cho bà Đào Thị O được 1.220.000 đồng; bán cho bà Lê Thị T2 được 1.870.000 đồng, tổng cộng trong ngày N bán được 5.540.000 đồng. Kết quả bà Nguyễn Thị N3 trúng 2.000 đồng số lô 84, đài B, được N trả thưởng 160.000 đồng. Như vậy, số tiền Nguyễn Thị N dùng để đánh bạc trong ngày 09/02/2024 là 5.700.000 đồng, thu lợi bất chính 5.380.000 đồng.
  • - Ngày 17/02/2024, Nguyễn Thị N bán số đầu, số đuôi, số lô, số đá theo kết quả xổ số kiến thiết M (Hậu Giang, Long An, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh), Miền T3 (Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Nông) và Miền B1.

Đối với các đài M, Nguyễn Thị N bán cho Trương Thị Á được 580.000 đồng; bán cho bà Nguyễn Thị N3 được 1.410.000 đồng; bán cho bà Đào Thị O được 630.000 đồng; bán cho bà Lê Thị T2 được 1.380.000 đồng, tổng cộng trong ngày N bán số theo kết quả mở thưởng của các đài Miền Nam được 4.000.000 đồng. Kết quả bà Nguyễn Thị N3 trúng 2.000 đồng số lô 39, trúng 2.000 đồng số lô 59, trúng 1.000 đồng số lô 90 và trúng 1.000 đồng số lô 93, đài H, được N trả thưởng 480.000 đồng. Như vậy, số tiền Nguyễn Thị N dùng để đánh bạc theo kết quả mở thưởng của các đài Miền Nam trong ngày 17/02/2024 là 4.480.000 đồng.

Đối với các đài M, Nguyễn Thị N bán cho Nguyễn Thị N3 được 225.000 đồng và không trúng thưởng. Như vậy, số tiền Nguyễn Thị N dùng để đánh bạc theo kết quả mở thưởng của các đài Miền Trung trong ngày 17/02/2024 là 225.000 đồng.

Đối với các đài M, Nguyễn Thị N bán cho Nguyễn Thị N3 được 322.000 đồng. Kết quả bà Nguyễn Thị N3 trúng thưởng 02 lô 89 số tiền 10.000 đồng, được trả thưởng 1.600.000 đồng; trúng 1.000 đồng số 49 đá với số 94, được trả thưởng 600.000 đồng. Như vậy, số tiền Nguyễn Thị N dùng để đánh bạc theo kết quả mở thưởng của các đài Miền Bắc trong ngày 17/02/2024 là 2.522.000 đồng.

Tổng cộng trong ngày 17/02/2024, Nguyễn Thị N thu lợi bất chính được 1.867.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A thu giữ tang vật gồm: 05 (năm) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu dùng để đánh bạc; tiền Việt Nam 230.000 đồng (Hai trăm ba mươi nghìn đồng) trên chiếu bạc; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng (Nhi tự nguyện giao nộp).

Tại Cáo trạng số 69/CT-VKS-AM ngày 15-7-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Thị NhiTrần Thị Sang về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Thị NTrần Thị S phạm tội đánh bạc và đề nghị:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung từ 10 đến 20 triệu đồng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị S từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung từ 10 đến 20 triệu đồng.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu dùng để đánh bạc. Tịch thu sung quỹ vào ngân sách nhà nước: Số tiền 230.000 đồng thu trên chiếu bạc; số tiền 7.247.000 đồng thu lợi bất chính của Nguyễn Thị N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng của N dùng vào việc phạm tội. Buộc nộp sung quỹ vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính đối với bà Nguyễn Thị N3 là 2.840.000 đồng (thu lợi vào ngày 09/02/2024 với số tiền 160.000 đồng; thu lợi vào ngày 17/02/2024 với số tiền 2.680.000 đồng); bà Võ Mỹ L là 200.000 đồng (thu lợi vào ngày 18/02/2024); bà Ngô Thị N2 là 120.000 đồng (thu lợi vào ngày 18/02/2024); bà Phạm Thị Mỹ D là 100.000 đồng (thu lợi vào ngày 18/02/2024).

- Bị cáo trình bày: Bị cáo Nguyễn Thị NTrần Thị S thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng việc xét xử nên HĐXX xét xử vắng mặt họ.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 18/02/2024 tại ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Công an xã T bắt quả tang các đối tượng đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép. Qua khai thác xác định được như sau:

  • - Ngày 09/02/2024, Nguyễn Thị N có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề (số đầu, số đuôi, số lô, số đá) được tổng số tiền như sau: Các đài M (Trà Vinh, Vĩnh Long, Bình Dương) bán được số tiền 5.540.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 160.000 đồng, tổng cộng 5.700.000 đồng.
  • - Ngày 17/02/2024, Nguyễn Thị N có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề (số đầu, số đuôi, số lô, số đá) được tổng số tiền như sau: Các đài M (Hậu Giang, Long An, Bình Phước) bán được số tiền 4.000.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 480.000 đồng, tổng cộng 4.480.000 đồng. Đài M bán được 225.000 đồng, không trúng thưởng và đài M (Hà Nội) bán được số tiền 322.000 đồng, trúng thưởng được số tiền 2.200.000 đồng, tổng cộng 2.522.000 đồng.

Bị cáo bán số đề tự trả thưởng, không nộp phơi cho ai, quá trình bán số đề thu lợi được tổng cộng 7.247.000 đồng.

Trần Thị S đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, đến ngày 18/02/2024 chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì lại tiếp tục vi phạm. Cụ thể vào khoảng 12 giờ ngày 18/02/2024 tại Xẻo N, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Trần Thị S tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài ngầu hầm thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng và thua hết 130.000 đồng thì bị bắt quả tang.

[3] Về tội danh: Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc bán số đề, đánh bài ngầu hầm thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; bị cáo N đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề được thua bằng tiền với số tiền đánh bạc vào ngày 09/02/2024 trên 5.000.000 đồng; bị cáo S nhận thức được việc chơi bài ngầu hầm thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, tuy mỗi ván bị cáo chỉ đặt cược 20.000 đồng đến 100.000 đồng và tiền thu được tại chiếu bạc chỉ 230.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng) nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào ngày 11/9/2023, tính đến ngày vi phạm chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo Nguyễn Thị NTrần Thị S phạm tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (bị cáo N đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích) nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình trong nhân dân. Các bị cáo chưa chấp hành tốt pháp luật nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo N đã tự thú về hành vi bán số đề và đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng các bị cáo NS có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền đánh bạc ít nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy các bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn khấu trừ thu nhập.

[4.4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe đối với các bị cáo và cần cân nhắc để có mức phạt phù hợp, đảm bảo khả năng thi hành án của các bị cáo.

[5] Về vật chứng, công cụ bị cáo N dùng để thực hiện hành vi phạm tội là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng; số tiền thu lợi bất chính bị cáo N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị N3, Võ Mỹ L, Ngô Thị N2, Phạm Thị Mỹ D cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; đối với 05 (năm) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng, 01 (một) chiếc chiếu dùng để đánh bạc hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về án phí, các bị cáo Nguyễn Thị NTrần Thị S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đối với Võ Mỹ L có hành vi tổ chức đánh bạc; Ngô Thị N2, Phạm Thị Mỹ D, Trương Thị Á, Nguyễn Thị N3, Đào Thị O, Lê Thị T2 có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, Công an huyện A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị NTrần Thị S phạm tội Đánh bạc.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

      Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.

      Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

      Giao bị cáo Trần Thị S cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.

      Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.

    3. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N và bị cáo Trần Thị S, mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.
  2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
      • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 866787052233355, số IMEI 2: 86678705223348, đã qua sử dụng.
      • + Số tiền thu tại chiếu bạc là 230.000 đồng (đã nộp tại biên lai thu số 0004048 ngày 18-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
      • + Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Thị N là 7.247.000 đồng (bị cáo N đã nộp 7.247.000 đồng tại biên lai thu số 0004047 ngày 18-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
      • + Số tiền thu lợi bất chính của bà Nguyễn Thị N3 là 2.840.000 đồng (bà N3 đã nộp 2.840.000 đồng tại biên lai thu số 0004159 ngày 19-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
      • + Số tiền thu lợi bất chính của bà Võ Mỹ L là 200.000 đồng, Ngô Thị N2 120.000 đồng, bà Phạm Thị Mỹ L1 là 100.000 đồng (buộc bà L, N2, L1 nộp số tiền trên để sung công quỹ).
    • - Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu dùng để đánh bạc.

    (Các vật chứng gồm 01 điện thoại, 05 bộ bài, 01 chiếc chiếu hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 35/QĐ-VKS-AM ngày 15-7-2024 của VKSND huyện An Minh)

  3. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Thị NTrần Thị S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27-8-2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Tân Thạnh, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Nh + Trần Thị S phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger