TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 84/2023/HS-ST Ngày 27/12/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Phan Văn Hưng; Ông: Hà Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2023/TLST-HS ngày 29/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86 /2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn P – Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1986 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: bản Xăng Cọc, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn D và bà Lang Thị L; Vợ: Lang Thị V; Con: 03 người; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 28/3/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 13 tháng 21 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong quyết định và được xóa tiền sự; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 08/9/2023.
Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N – Chi nhánh S1.
Có mặt.
- Người bị hại: Vi Văn D, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: bản Xăng Cọc, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 10/5/2023. Bị cáo Vi Văn P đến nhà bố đẻ mình là ông Vi Văn D mượn xe máy để đi chơi, ông D đã giao xe cho bị cáo là xe nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 37GA – 02540, sau khi mượn được xe bị cáo điều khiển xe đi trong làng tìm bạn để đi chơi nhưng không gặp ai, lúc này bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt và đưa chiếc xe đó đi cầm cố lấy tiền tiêu xài, do không có đăng ký xe nên bị cáo quay lại nhà ông D lục tìm được đăng ký xe và bị cáo điều khiển xe đi lên huyện Q, tỉnh Nghệ An tìm nơi cầm cố. Bị cáo đã đưa chiếc xe đó đến cửa hàng của Nguyễn Đình T1, ở khối T, thị trấn K, huyện Q gặp anh T1 hỏi cầm cố chiếc xe trên. T1 hỏi nguồn gốc xe thì bị cáo nói xe của gia đình và đưa giấy đăng ký xe cho T1 và T1 đồng ý cho bị cáo cầm cố xe lấy 2.000.000 đồng, bị cáo hẹn vài ngày sau sẽ đến trả tiền và lấy lại xe và thỏa thuận khi nào trả tiền lấy lại xe thì bị cáo phải trả cho T1 2.050.000 đồng. Ngày 11/5/2023 bị cáo lại đến gặp T1 và lấy thêm số tiền 500.000 đồng. Số tiền trên bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Do không thấy bị cáo đưa xe về trả nên ngày 13/5/2023 ông Vi Văn D đã làm đơn trình bào Công an xã C về sự việc và yêu cầu điều tra xử lý. Công an xã C tiếp nhận đơn trình báo và ngày 13/5/2023 bị cáo về nhà biết ông Vi Văn D đã trình báo sự việc tại Công an xã nên chiều ngày 13/5/2023 bị cáo đã đến đầu thú tại Công an xã C và khai nhận về hành vi của bị cáo đã thực hiện. Công an xã C đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra Công an huyện Q để xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2023 của Hội đồng định trong tố tụng hình sự UBND huyện Q kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO có trị giá: 5.200.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ tại Nguyễn Đình T1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 37 GA - 02540 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Vi Văn D.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt thuộc sở hữu của ông Vi Văn D, quá trình điều tra đã thu hồi và trả lại cho ông D đầy đủ. Ông D không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Anh Nguyễn Đình T1 là người đã cho bị cáo cầm cố chiếc xe máy trên với số tiền 2.500.000 đồng, trong quá trình điều tra ông Vi Văn D đã hoàn trả cho anh T1 đầy đủ, anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.
Cáo trạng số: 87/CT-VKS - QC, ngày 28/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố bị cáo Vi Văn P về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm b khoản 1 điều 175 của Bộ luật hình sự.
-Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 điều 175, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Văn P từ 07 (B) đến 12 (Mười hai) tháng tù về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ không có yêu cầu bồi thường gì thêm và không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 2.500.000 đồng đã trả cho Nguyễn Đình T1. Anh Nguyễn Đình T1 đã được ông Vi Văn D hoàn trả lại số tiền 2.500.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm. Do đó đề nghị không xem xét.
Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đã thực hiện và có đủ căn cứ chứng minh hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có trị giá ở mức khởi điểm của khung hình phạt. Do đó nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 06 (S) tháng tù là hợp lý. Về hình phạt bổ sung và án phí nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
-Ý kiến của bị cáo: Bị cáo không tranh luận và xin được giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo cải tạo tốt và sớm được trở về với cộng đồng, với gia đình và xã hội.
- Ý kiến của người bị hại: Không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm và không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền mà người bị hại đã trả lại cho Nguyễn Đình T1 2.500.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên thu thập, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ai có khiếu nại về hành vi tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và kiểm sát viên.
[2] Về nội dung:
Căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Giữa bị cáo và người bị hại có mối quan hệ là cha con. Sáng ngày 10/5/2023. Bị cáo đến nhà bố mẹ và mượn xe máy với bố để đi chơi, bố bị cáo là ông Vi Văn D đã cho bị cáo mượn xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 37GA – 02540, sau khi mượn được xe bị cáo điều khiển xe đi trong làng tìm bạn để đi chơi nhưng không gặp ai, lúc này bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt và đưa chiếc xe đó đi cầm cố lấy tiền tiêu xài, do không có đăng ký xe nên bị cáo quay lại nhà bố mẹ lục tìm được đăng ký xe và bị cáo đưa xe lên huyện Q, tỉnh Nghệ An cầm cố cho anh Nguyễn Đình T1 lấy số tiền 2.500.000 đồng. Số tiền trên bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Do xe đã cầm cố và không có tiền trả lại cho anh T1 để đưa xe về trả lại cho bố là ông Vi Văn D và khi bị cáo về nhà biết ông D đã trình báo sự việc với Công an xã C, nên chiều ngày 13/5/2023 bị cáo đã đến đầu thú tại Công an xã C và khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đã thực hiện. Trong quá trình điều tra do điều kiện khó khăn nên bị cáo đã đi làm thuê, sau khi trở về nhà thì bị Công an huyện Q bắt tạm giam bị cáo từ ngày 08/9/2023.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá tình điều tra, phù hợp với lời khai của ông Vi Văn D và anh Nguyễn Đình T1, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được. Tài sản bị cáo chiếm đoạt thuộc sở hữu của ông Vi Văn D có trị giá: 5.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo là mượn tài sản của ông Vi Văn D, mặc dù không phải tài sản thuộc sở hữu của bị cáo nhưng đã đưa tài sản đó cầm cố dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 175 của Bộ luật hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại tài sản thuộc sở hữu của người khác, đặc biệt bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của chính những người thân thích của mình.
- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu: Tại bản án số: 10/2012/HSST Ngày 28/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 13 tháng 21 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo phải bồi thường cho Công ty cổ phần khai thác và chế biến đá H Mạnh Tích là 2.000.000 đồng, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 200.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách của án treo và chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Đối với khoản tiền bị cáo phải bồi thường cho Công ty cổ phần khai thác và chế biến đá H Mạnh Tích là 2.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo khai đã tự nguyện bồi thường cho Công ty H3 đầy đủ vào năm 2015 nhưng không có tài liệu để chứng minh. Căn cứ vào kết quả điều tra xác minh của Cơ quan điều tra Công an huyện Q thì Công ty cổ phần K và chế biến đá Hằng Mạnh Tích từ năm 2016 đã giải thể không còn hoạt động, người đại diện theo pháp luật ông Hồ Văn H1 không có mặt tại địa phương không biết đi đâu, làm gì. Căn cứ vào kết quả điều tra xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An thì khi bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án không có đơn yêu cầu thi hành số tiền bồi thường trên. Tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự thì đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án. Do đó căn cứ vào điều 70 của Bộ luật hình sự thì bị cáo chưa chấp hành xong bản án. Tuy nhiên do Công ty cổ phần K và chế biến đá Hằng Mạnh Tích không còn hoạt động nên không thể điều tra, xác minh được việc bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho Công ty H4 chưa. Do đó áp dụng hướng có lợi cho bị cáo và bị cáo được coi là đương nhiên xóa án tích.
Ngày 29/11/2017bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong quyết định và được xóa tiền sự.
Do bị cáo có nhân thân xấu nên cần thiết xét xử nghiêm đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo thành người sống có ích cho xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi biết hành vi phạm tội của mình đã bị tố giác nên đã chủ động đến đầu thú tại Công an xã C, huyện Q và tại phiên tòa người bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 175 của Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với hành vi của Nguyễn Đình T1 nhận cầm cố tài sản do bị cáo chiếm đoạt. Tuy nhiên khi nhận cầm cố không biết đó là tài sản do bị cáo thực hiện tội phạm mà có. Hành vi của Nguyễn Đình T1 không cấu thành tội phạm.
[3] Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ tài sản bị cáo chiếm đoạt tại anh Nguyễn Đình T1 và trả lại cho chủ sở hữu. Do đó không xem xét.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt đầy đủ không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm và không yêu cầu hoàn trả lại số tiền 2.500.000 đồng đã trả cho Nguyễn Đình T1. Anh Nguyễn Đình T1 là người cho bị cáo cầm cố tài sản nhưng không biết đó là tài sản do thực hiện tội phạm mà có, trong quá trình điều tra ông Vi Văn D (Bố bị cáo) đã hoàn trả lại số tiền do bị cáo cầm cố tài sản cho anh Nguyễn Đình T1 2.500.000 đồng, anh T1 không yêu cầu gì thêm. Do đó không xem xét.
[5] Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 điều 175; điểm s khoản 1, khản 2 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự .
- Xử phạt: V1 (Chín) tháng tù về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm gian 08/9/2023.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vi Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Phan Văn Hưng Hà Văn H2 | Lô Xuân D1 |
Bản án số 84/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 84/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cá mượn xe của bố đi cơi, Do nghiện cất ma túy nên đã đưa xe đi cầm cố lấy tiền mua ma túy sử dụng
