Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 26-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Sao Hôm và ông Phạm Văn Toán.
  • Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn Q, sinh năm 1992 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn P, xã B, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Q1 và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị A và 2 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 91/QĐ-UBND ngày 17/6/2024 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện K áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Phạm Văn Q thời hạn 01 năm, kể từ ngày 17/6/2024.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: bà Lâm Thị N, sinh năm 1972 (đã chết)

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

  1. Cụ Lâm Quang R, sinh năm 1931 (là bố đẻ của bà N).
  2. Cụ Nguyễn Thị O, sinh năm 1937 (là mẹ đẻ của bà N).
  3. Ông Lê Văn H1, sinh năm 1971 (là chồng của bà N).
  4. Chị Lê Thị H2, sinh năm 1993 (là con của bà N).
  5. Anh Lê Văn H3, sinh năm 1995 (là con của bà N).

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh H4, sinh năm 1968.

Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Đồng Thị D. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2010, Phạm Văn Q sử dụng tài khoản facebook trên điện thoại di động của mình đặt mua của một người không rõ lai lịch 01 Giấy phép lái xe mô tô giả hạng A1 với số tiền 500.000 đồng với mục đích khi điều khiển xe mô tô nếu bị kiểm tra, Q sẽ xuất trình để chứng minh có giấy phép lái xe theo quy định. Để thực hiện việc này, Q đã gửi ảnh, thông tin cá nhân của mình qua tài khoản facebook cho người Quảng đặt mua Giấy phép lái xe giả. Sau đó khoảng 02 tuần, Q nhận được 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AN 672529 mang tên Phạm Văn Q do Sở G cấp ngày 03/02/2010 qua nhân viên giao hàng không rõ địa chỉ và đưa tiền mua Giấy phép lái xe giả cho người này.

Khoảng gần 06 giờ ngày 08/6/2024, Q điều khiển xe mô tô loại Jupiter, biển số 34B1-928.72, có dung tích xi lanh 110cm³ đi từ huyện A, thành phố Hải Phòng về nhà. Khoảng 06 giờ cùng ngày, Q đi đến Km 25+160, Quốc lộ A hướng N - P thuộc thị tứ Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương. Đây là đoạn đường hai chiều tương đối thẳng được phân chia bởi vạch sơn vàng đứt đoạn, mặt đường rộng 6,75 mét được trải nhựa áp phan phẳng. Lúc này, Q điều khiển xe đi gần sát vạch sơn vàng chia hai chiều đường và quan sát thấy cách khoảng 10 mét về phía trước có bà Lâm Thị N đang ngồi trên xe máy điện đeo biển số 34MĐ1-118.72 ở rìa đường bên phải theo hướng đi của Q. Q thấy bà N điều khiển xe đi sang bên trái đường và cho rằng bà N sẽ điều khiển xe đi thoát được sang hẳn chiều đường P - N nên Q tiếp tục điều khiển xe về phía trước, không giảm tốc độ. Khi xe máy điện do bà N điều khiển đi sang đến giữa đường (bánh trước xe máy điện đi sang đến phần đường P - N, bánh sau xe máy điện đang ở phần đường N - P) thì phần mặt ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô do Q điều khiển va chạm với mặt ngoài ốp sườn phía sau bên trái xe máy điện do bà N điều khiển làm xe máy điện bị đẩy xoay dọc, đuôi xe hướng P, đầu xe hướng Ngọ D1 đổ nghiêng trái trên đường. Bà N ngã theo xe, còn xe mô tô do Q điều khiển đổ nghiêng sang bên phải theo chiều đường N - P. Lúc này, bà Đồng Thị D chứng kiến sự việc đã đi ra đỡ bà N dậy. Do bà N kêu đau ở vùng lưng và hông nên Q cùng bà D đưa bà N đến Trạm y tế xã Đ kiểm tra thương tích. Sau đó bà N được gia đình đưa đến phòng khám Đ chụp X-Q1 cột sống thắt lưng. Kết quả chụp X-Q1 thể hiện bà N bị vỡ xẹp hình chêm thân L1, thoái hóa thân L4 và L5. Cùng ngày 08/6/2024, bà N được gia đình đưa đến cơ sở khám chữa bệnh đông y của ông Hoàng C ở phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh để đắp thuốc lá sau đó về nhà. Ngày 10/6/2024, do bà N vẫn bị đau ở vùng lưng và hông nên được gia đình đưa đến Bệnh viện H5 điều trị. Song do bị vỡ xẹp thân đốt sống L1 gây chén ép và phù chóp tủy ngang, mức tiên lượng rất nặng, nguy cơ tử vong cao nên bà N được gia đình đưa về nhà và bị chết vào ngày 15/6/2024.

Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Q và gia đình bà N không trình báo chính quyền địa phương. Ngày 15/6/2024, sau khi bà N chết, Công an xã Đ nắm bắt được thông tin vụ việc nên đã báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K.

Ngày 15/6/2024, Phạm Văn Q đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K giao nộp 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AN 672529 mang tên Phạm Văn Q do Sở G cấp ngày 03/2/2010. Mục đích Q giao nộp giấy phép lái xe này để xuất trình với Cơ quan điều tra là Q có Giấy phép lái xe hạng A1, đủ điều kiện điều khiển xe mô tô tham gia giao thông. Ngoài ra, Q còn giao nộp 01 vai xe bắt nối cổ phốt với giảm sóc bánh trước của xe mô tô biển số 34B1-928.72 bị cong vênh do va chạm đã được Q đem đến hiệu sửa chữa xe máy thay thế.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 183/KLGĐTT-KTHS ngày 28/6/2024 và công văn số 240/CV ngày 26/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Nạn nhân Lâm Thị N bị chết do suy hô hấp, suy tuần hoàn trên nạn nhân chấn thương cột sống vỡ xẹp thân đốt sống L1, gãy gai sau T12; chảy máu trong ổ bụng, sau phúc mạc/tiền sử nạn nhân thay van 2 lá cơ học. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương vỡ xẹp thân đốt sống L1, gãy gai sau T12 trên cơ thể bà N do vật tày gây nên là phù hợp. Nếu bà N không bị các tổn thương chấn thương cột sống vỡ xẹp thân đốt sống L1, gãy gai sau T12; chảy máu trong ổ bụng, sau phúc mạc thì bà N không bị tử vong thời điểm đấy.

Tại bản Kết luận giám định số 5258/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của V Bộ C1 kết luận: Mẫu in Giấy phép lái xe số AN 672529 mang tên Phạm Văn Q ngày 03/02/2010 là Mẫu in giả.

Tại bản Kết luận giám định số 168/KL-KLGĐ ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 34B1-928.72 hình thành khi xe đang chuyển động; dấu vết va chạm trên xe máy điện đeo biển số 34MĐ1-118.72 hình thành khi xe ở tư thế đứng và đổ nghiêng trái. Mặt ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô va chạm với mặt ngoài ốp sườn phía sau bên trái xe máy điện là phù hợp; dấu vết va chạm trên xe mô tô có chiều từ trước về sau, dấu vết va chạm tren xe máy điện có chiều từ trái sang phải, từ trước về sau.

Cơ quan điều tra đã tiến hành test ma túy trong nước tiểu đối với Phạm Văn Q ngày 15/6/2024, kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Theo Q khai ngày 10/6/2024, Q mua ma túy của một người đàn ông không rõ lai lịch, sau đó Q sử dụng tại bờ đê thôn P, xã B, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Sau khi xảy ra tai nạn, Q đã tự nguyện bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bà Lâm Thị N số tiền 100.000.000 đồng. Ông Lê Thanh H4 là người đại diện theo uỷ quyền của gia đình bà N làm đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Q.

Tại Cáo trạng số: 79/CT-VKS ngày 06/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 341, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Phạm Văn Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ ngày 08/6/2024 tại Km 25+160, Quốc lộ A thuộc thị tứ Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn Q không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 34B1-928.72, có dung tích xi lanh 110cm³ đi trên Quốc lộ A hướng Ngọ D1 đi thị trấn P. Do không làm chủ tốc độ tay lái, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi đi trong khu vực đông dân cư nên phần mặt ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô do Q điều khiển va chạm với mặt ngoài ốp sườn phía sau bên trái xe máy điện do bà Lâm Thị N điều khiển đang chuyển hướng từ bên phải chiều đường N - P sang bên trái đường làm xe máy điện bị đổ, bà N ngã theo xe. Hậu quả: bà N bị chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn do chấn thương cột sống vỡ xẹp thân đốt sống L1, gãy gai sau T12; chảy máu trong ổ bụng, sau phúc mạc ngày 15/6/2024. Q giao nộp 01 giấy phép lái xe hạng A1 giả nhằm lừa dối cơ quan chức năng để không bị xử lý về hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi không có Giấy phép lái xe theo quy định.

[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng khi tham gia giao thông đường bộ, bị cáo đã sử dụng giấy phép lái xe giả và vi phạm các khoản 9 và 23 Điều 8, khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ; khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1, gây hậu quả làm 1 người chết. Hành vi trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3.1]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho gia đình bị hại, bị hại có một phần lỗi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, HĐXX thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe với bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo phạm nhiều tội, nên cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt.

[3.2]. Trong vụ án này, tài liệu điều tra không xác định được người bán chất ma tuý và người làm Giấy phép lái xe giả cho Phạm Văn Q là ai, ở đâu. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đủ căn cứ để xử lý.

[3.3]. Bà Lâm Thị N điều khiển xe máy điện tham gia giao thông khi chuyển hướng sang đường không chú ý quan sát, đã vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 15 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, bà N đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý.

[3.4]. Bị cáo Q đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 99/QĐ-XPHC ngày 14/10/2024 đối với Q theo quy định là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện bị hại đã nhận đủ và không có yêu cầu thêm nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không hành nghề lái xe, không có thu nhập ổn định và tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: chiếc điện thoại di động mà bị cáo Q sử dụng đặt mua Giấy phép lái xe giả sau đó đã bị hư hỏng, Q đã vứt đi nên không thu giữ được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã lại cho Q chiếc xe mô tô loại Jupiter, biển số 34B1-928.72 cùng giấy đăng ký của xe, 01 vai xe bắt nối cổ phốt với giảm sóc xe mô tô, trả lại cho gia đình bà N 1 chiếc xe máy điện đeo biển số 34MĐ1-118.72. Đối với chiếc biển số 34MĐ1-118.72, quá trình điều tra xác định là biển số đăng ký xe máy điện mang tên Đoàn Thị P, địa chỉ: khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K tiến hành xác minh tại Công an phường T, thành phố H không có người nào có thông tin như trên. Ngày 08/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K bàn giao chiếc biển số 34MĐ1-118.72 cho Đội cảnh sát giao thông Công an huyện K để giải quyết theo thẩm quyền. Đối với Giấy phép lái xe giả số AN 672529 mang tên Phạm Văn Q, là vật chứng được quản lý, lưu trong hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 341, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 3 năm 2 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và 7 tháng tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 3 (ba) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/9/2024.
  3. Về án phí: bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Thành;
  • - Công an huyện Kim Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện bị hại;
  • - Cơ quan THAHS – Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Toán

Nguyễn Sao Hôm

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 06 giờ ngày 08/6/2024 tại Km 25+160, Quốc lộ 17 thuộc thị tứ Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn Q không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 34B1-928.72, có dung tích xi lanh 110cm3 đi trên Quốc lộ 17B hướng N đi thị trấn P. Do không làm chủ tốc độ tay lái, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi đi trong khu vực đông dân cư nên phần mặt ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô do Q điều khiển va chạm với mặt ngoài ốp sườn phía sau bên trái xe máy điện do bà Lâm Thị N điều khiển đang chuyển hướng từ bên phải chiều đường N - P sang bên trái đường làm xe máy điện bị đổ, bà N ngã theo xe. Hậu quả: bà N bị chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn do chấn thương cột sống vỡ xẹp thân đốt sống L1, gãy gai sau T12; chảy máu trong ổ bụng, sau phúc mạc. Ngày 15/6/2024, Q giao nộp 01 giấy phép lái xe hạng A1 giả nhằm lừa dối cơ quan chức năng để không bị xử lý về hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi không có Giấy phép lái xe theo quy định.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger