|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 26-9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải
Ông Nguyễn Văn Hợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên HOÀNG VĂN H, sinh năm: 1994
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn Q (đã chết) và bà: Ngô Thị S, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án: Không có
Tiền sự: Không có
Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Bà Vũ Thị Y, sinh năm 1965
Trú tại: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(Có mặt)
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993
Trú tại: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 13/5/2024, Hoàng Văn H2 đang đứng ở khu vực đường đi trước cửa nhà H2 tại xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì thấy bà Vũ Thị Y (là thím của H2) khóa cửa rời khỏi nhà và để chìa khóa tại khu vực chứa củi cạnh lối đi vào nhà nên H2 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là chiếc tivi của bà Y. H2 về nhà lấy 01 chiếc tô vít rồi đi bộ sang nhà bà Y với mục đích để tháo giá đỡ của chiếc ti vi. H2 lấy chìa khóa rồi mở cửa xếp, dưới tầng hầm, đi vào khu vực bếp rồi đi lên cầu thang tới phòng khách nhà bà Y dùng tô vít mang theo tháo ốc vít cố định của chân giá đỡ tivi với kệ gỗ. Sau khi tháo xong, H2 cất tô vít vào túi quần rồi dùng hai tay bê chiếc tivi mang về phòng ngủ của gia đình H2 rồi tiếp tục tháo chân giá đỡ tivi ra giấu lên nóc tủ quần áo, còn màn hình tivi H2 mang giấu vào gầm giường trong phòng ngủ. Đến ngày 14/5/2024 H2 gọi điện đến hãng xe taxi P để đặt thuê xe chở H2 đi đến huyện H, tỉnh Bắc Giang vào sáng 15/5/2024. Đến khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 15/5/2014, H2 lấy chiếc chăn nhung màu đỏ của gia đình H2 bọc chiếc tivi lại rồi nhờ anh H1 cùng khênh chiếc ti vi hộ H2 và nói dối anh H1 là mang ti vi đi sửa. Khi cả hai đang bê chiếc tivi đi ra xe ô tô thì bà Y trông thấy nên đã yêu cầu để chiếc tivi lại và mời lực lượng Công an đến giải quyết, lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng sau đó chuyển hồ sơ cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 27/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc ti vi mà Hoàng Văn H2 trộm cắp. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31 ngày 06/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện P, tỉnh Thái Nguyên, kết luận: “01 chiếc tivi màu đen, nhãn hiệu LG, loại 55 inch, model 55UM7600PTA, sản xuất tháng 10/2019 có giá trị là 2.500.000 đồng”.
Vật chứng của vụ án gồm: - 01 chiếc tivi màu đen, nhãn hiệu LG, loại 55 inch, model 55UM7600PTA, sản xuất tháng 10/2019 cùng 04 ốc vít có kích thước màu đen dài 3,2cm, bằng kim loại trên mỗi ốc vít có 02 long đen; 02 ốc vít mà ghi xám trong đó có 01 ốc vít dài 3cm, 01 ốc vít dài 2cm; 02 long đen bằng kim loại có đường kính lần lượt là 2cm và 1,9cm; 03 long đen bằng nhựa có đường kính 2,9cm đã được trả lại cho bị hại quản lý sử dụng.
01 áo phông cộc tay màu xanh, trên ngực trái có dán nhãn mác chữ “Jukwang Vina” cũ và 01 quần đùi màu xám đã qua sử dụng; 01 chăn nhung màu đỏ, họa tiết hoa lá cành, chăn có kích thước (1,76x1,96)m cũ đã qua sử dụng, tất cả được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu (QAC); 01 chiếc tôvit cũ đã qua sử dụng có bốn cạnh bằng kim loại, chuôi bằng nhựa, tổng chiều dài là 25,5cm, phần kim loại dài 14cm, phần chuôi dài 11,5cm được niêm phong bên trong hộp giấy ký hiệu (C); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám, dung lượng 64GB, số IMEI: 352853114288901 được niêm phong trong bì thư ký hiệu (H4) được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị Y đã nhận lại toàn bộ tài sản và bà Y xác định tài sản không bị thiệt hại gì, bà tự nguyện không yêu cầu H2 phải bồi thường thiệt hại.
Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKSPB ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Hoàng Văn H2 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H2 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H2 từ 07 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị Y tự nguyện không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy những vật chứng gồm: 01 áo phông cộc tay màu xanh và 01 quần đùi màu xám đã qua sử dụng; 01 chăn nhung màu đỏ, họa tiết hoa lá cành; 01 chiếc tôvit cũ đã qua sử dụng có bốn cạnh bằng kim loại, chuôi bằng nhựa.
- - Tịch giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương do bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, hiện nay bị cáo đang phải chăm sóc mẹ già bị bệnh tim, chị gái bị bệnh động kinh.
Bị hại xác định đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất, tài sản không bị thiệt hại gì, tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, mẹ và chị gái đều bị bệnh, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 13/05/2024, lợi dụng việc gia đình bà Vũ Thị Y không có ai ở nhà. Hoàng Văn H2 đã mở cửa vào nhà rồi thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc tivi màu đen, nhãn hiệu LG, loại 55 inch, model 55UM7600PTA, sản xuất tháng 10/2019 có giá trị là 2.500.000 đồng của gia đình bà Y.
Xét, lời khai nhận tội của bị cáo H2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo H2 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên buộc phải nhận thức và biết được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Chiếc tivi mà bị cáo chiếm đoạt của bà Y có giá trị là 2.500.000 đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Hoàng Văn H2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc cho nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Hành vi đó của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra, bị cáo còn được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h,i,s khoản 1,2 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét, bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, mẹ bị cáo bị bệnh tim phải thường xuyên điều trị tại bệnh viện, chị gái bị cáo bị bệnh động kinh, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng biện pháp cải tạo cách ly đối với bị cáo mà có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Hoàng Văn H2 được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với với bị cáo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho bị cáo có thể chăm sóc cho mẹ đẻ và chị gái đang bị bệnh tật và thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta. Đồng thời cần tuyên rõ hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015.
- - Đối với vật chứng là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng gồm: 01 áo phông cộc tay màu xanh và 01 quần đùi màu xám đã qua sử dụng; 01 chăn nhung màu đỏ, họa tiết hoa lá cành cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc tôvit cũ đã qua sử dụng có bốn cạnh bằng kim loại, chuôi bằng nhựa cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo còn phải có nghĩa vụ nộp tiền án phí do vậy cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo.
[8 Trong vụ án này, còn có anh Nguyễn Văn H1 là người lái xe taxi đến chở H2 và giúp H2 mang chiếc tivi ra xe ô tô nhưng anh H1 không biết nguồn gốc chiếc tivi là do H2 trộm cắp mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và những vấn đề khác của vụ án là phù hợp với quy định của Pháp luật cần chấp nhận.
[10] Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn H2 buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 26 tháng 9 năm 2024 cho đến khi bị cáo chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
- - Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H2 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Hoàng Văn H2 10 (Mười) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 26 tháng 9 năm 2024).
Giao bị cáo Hoàng Văn H2 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, 93 của Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (là bị cáo Hoàng Văn H2) nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn H2 buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 26 tháng 9 năm 2024 cho đến khi bị cáo chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu QAC, bên trong có chứa 01 áo phông cộc tay màu xanh, trên ngực trái có dán nhãn mác chữ “Jukwang Vina” cũ và 01 quần đùi màu xám đã qua sử dụng; 01 chăn nhung màu đỏ, họa tiết hoa lá cành, chăn có kích thước (1,76x1,96)m cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) Hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu C, bên trong có chứa 01 chiếc tô vit cũ đã qua sử dụng có bốn cạnh bằng kim loại, chuôi bằng nhựa, tổng chiều dài là 25,5cm, phần kim loại dài 14cm, phần chuôi dài 11,5cm;
- - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo: 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu H4, bên trong có chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám, dung lượng 64FB, số IMEI: 352853114288901.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
6. Thông báo quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo (Hoàng Văn H2), bị hại báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
