Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST

Ngày 25 - 10 - 2023

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Trân

Bà Nguyễn Hồng Xứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Đào Thị Ngọc Trâm – Kiểm sát viên trung cấp, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 1A/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh Hùng (Nguyen Manh Hung), sinh ngày 07/4/1967

Địa chỉ trong giấy đăng ký kết hôn: 8250 CALVINE ROAD C372 SACRAMNTO CA 95828 USA.

Địa chỉ tại Việt Nam: 254 Nguyễn Tri Phương, khu phố Bình Đường 4, phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc Liên, sinh ngày 08/10/1988

Địa chỉ trong giấy đăng ký kết hôn: Lô 3, xã Hưng Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Địa chỉ hiện nay: 9214 Homeland DR Houston Texas 77083 USA.

(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh Hùng trình bày:

Ông Nguyễn Mạnh Hùng và bà Lê Thị Ngọc Liên quen nhau do được giới thiệu, tìm hiểu, có tình cảm nên tự nguyện kết hôn. Có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam vào năm 2009, sau đó thực hiện thủ tục đăng ký kết theo quy định và được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn, vào Sổ đăng ký kết hôn số 17 quyển số 01 ngày 13/01/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến ngày 27/7/2010 sinh được một người con tên Nguyễn Đan My, giới tính nữ. Do ông Hùng sinh sống tại Mỹ nên đến tháng 7 năm 2011, ông Hùng bảo lãnh bà Liên và con gái sang Mỹ đoàn tụ, sinh sống tại địa chỉ 9214 Homeland DR Houston Texas 77083 USA. Trong thời gian sống tại Mỹ được khoảng 06 tháng thì ông bà xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn trầm trọng nên ông trở về Việt Nam sống cho đến nay, riêng bà Liên và con gái vẫn sống tại Mỹ. Từ thời gian ông về Việt Nam đến nay vợ chồng không hàn gắn được nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Hùng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • - Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Ngọc Liên;
  • - Về con chung: Ông Hùng đồng ý giao con cho bà Liên trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông Hùng không cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ông Hùng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Đối với bị đơn bà Lê Thị Ngọc Liên: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ, đăng trên cổng thông tin điện tử và niêm yết tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ cho bà Liên về yêu cầu khởi kiện của ông Hùng, ấn định thời gian giải quyết vụ án để bà Liên biết. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử sơ thẩm, bà Liên vắng mặt và Tòa án không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bà Liên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh Hùng; về con chung, chấp nhận yêu cầu của ông Hùng, giao con cho bà Liên tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, ông Hùng không cấp dưỡng nuôi con.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh Hùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn Lê Thị Ngọc Liên vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp. Căn cứ theo quy định tại các điều Điều 227, 228, 238 và 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
  2. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh Hùng:

    Qua các tài liệu, chứng cứ thể hiện ông Nguyễn Mạnh Hùng và bà Lê Thị Ngọc Liên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn, vào Sổ đăng ký kết hôn số 17, Quyển số 01, ngày 13/01/2010. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân giữa ông Nguyễn Mạnh Hùng và bà Lê Thị Ngọc Liên là hợp pháp.

    Ông Nguyễn Mạnh Hùng xác định, quá trình chung sống do không hợp nhau về cách sống nên dẫn đến mâu thuẫn, ông Hùng về Việt Nam sinh sống, bà Liên ở lại Mỹ sống cùng con gái. Thời gian sống xa cách, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, hôn nhân không hạnh phúc và không còn khả năng hàn gắn. Tại văn bản cung cấp thông tin xuất cảnh số 711 ngày 13/4/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh cung cấp thông tin bà Lê Thị Ngọc Liên xuất cảnh từ ngày 16/7/2011 cho đến nay chưa nhập cảnh trở lại Việt Nam. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, ông Hùng xác định bà Liên sang Mỹ định cư cho đến nay.

    Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Mạnh Hùng và bà Lê Thị Ngọc Liên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Mạnh Hùng.

  3. Về con chung: Ông Nguyễn Mạnh Hùng và bà Lê Thị Ngọc Liên, có một người con chung tên Nguyễn Đan My sinh ngày 27/7/2010, giới tính nữ, hiện đang sống cùng bà Liên. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu My, xử giao cháu My cho bà Liên tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp; ông Hùng và bà Liên đều có quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Do bà Liên không có văn bản trình bày ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con, nên không buộc ông Hùng thực hiện cấp dưỡng, trường hợp sau này bà Liên có yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hùng xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Ông Hùng phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã tạm nộp.
  6. Chi phí ủy thác: Ông Hùng phải chịu 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp, ông Hùng đã nộp nên được khấu trừ tại biên lại thu số 008050 ngày 20/5/2022 (do Đinh Văn Tỉnh nộp thay).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 469, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh Hùng.

  1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng (Nguyen Manh Hung) được ly hôn với bà Lê Thị Ngọc Liên.
  2. Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Đan My sinh ngày 27/7/2010, giới tính nữ cho bà Lê Thị Ngọc Liên tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Hùng và bà Liên được quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên, theo quy định.

    Ông Nguyễn Mạnh Hùng không cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp về việc cấp dưỡng nuôi con, thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Ông Nguyễn Mạnh Hùng phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí (do Đinh Văn Tỉnh nộp) theo biên lai thu tiền số 0007237 ngày 20/4/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
  5. Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Mạnh Hùng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bà Lê Thị Ngọc Liên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Kiên Giang;
  • - UBND tỉnh Kiên Giang.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Út Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2023/HNGĐ-ST ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 84/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn - hung lien
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger