|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ngày 25-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nhàn
Bà Trần Thị Minh Hợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: ông Bùi Nguyên Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D - Sinh ngày 15/4/1984 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn Í (đã chết) và bà Hồ Thị B; Vợ: Nguyễn Thị A, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và Lê Thị T, sinh năm 1994 (đã ly hôn); con: 01 con, sinh năm 2003; Tiền sự: không
Tiền án:
- - Ngày 16/12/2009 bị TAND quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/6/2010.
- - Ngày 18/01/2011 bị TAND quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/12/2011.
- - Ngày 28/11/2013 bị TAND huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 15/12/2016.
- - Ngày 29/3/2017 bị TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 15/3/2020.
- - Ngày 15/6/2021 bị TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 40 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 06/02/2024.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2024
- Bị hại: chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1984; Nơi cư trú: xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt .
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị C – Sinh năm 1991. Nơi cư trú: xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt
Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: xóm F, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 26/4/2024 do có ý định đi cướp giật tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, nên Nguyễn Văn D, sinh năm 1984 ở xóm B, xã T, huyện Đ, đã mượn xe mô tô BKS 37 B2-42763 của chị Nguyễn Thị C là em dâu của Nguyễn Văn D để đi thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi mượn được xe mô tô, Nguyễn Văn D điều khiển đi theo đường T lên xã T đi ra đường N và đi lên xã Y, huyện Đ. Đến khoảng 19 giờ 20 phút, cùng ngày 26/4/2024 khi Nguyễn Văn D đi đến khu vực chợ thuộc xóm B, xã L, huyện Đ thì phát hiện thấy chị Nguyễn Thị H, điều khiển xe mô tô đi cùng chiều trên cổ có đeo 01 sợi dây chuyền vàng, nên Nguyễn Văn D đã nảy ý định cướp giật sợi dây chuyền vàng này của chị Nguyễn Thị H. Để thực hiện ý đồ Nguyễn Văn D đã tăng ga đuổi kịp xe mô tô chị Nguyễn Thị H về phía bên phải và nói với chị Nguyễn Thị H là đi dịch sang bên trái nhường đường để cho Nguyễn Văn D đi với. Khi nghe Nguyễn Văn D nói vậy thì chị Nguyễn Thị H đánh xe lệch sang trái, thì Nguyễn Văn D vượt xe lên ngang qua xe mô tô của chị Nguyễn Thị H và dùng tay trái giật đứt và lấy được sợi dây chuyền vàng đang đeo trên cổ của chị Nguyễn Thị H. Sau khi cướp giật được sợi dây chuyền vàng thì Nguyễn Văn D tăng ga xe bỏ chạy theo hướng ra Quốc lộ A A và chạy về xã T, huyện Đ. Sau khi đến ngã ba xã T, huyện Đ thì Nguyễn Văn D dừng xe vào quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1965 mua một chai nước ngọt uống xong thì về nhà ngủ. Đến sáng ngày 27/4/2024 Nguyễn Văn D đi ra ngã tư xã C, huyện Y bán sợi dây chuyền vàng đã cướp giật được cho chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986 là chủ cửa hàng vàng bạc “P” với giá 10.260.000 đồng (Chị Nguyễn Thị T1 không biết sợi dây chuyền vàng này là do Nguyễn Văn D phạm tội mà có), số tiền bán sợi dây chuyền vàng này Nguyễn Văn D đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua được sợi dây chuyền vàng thì vào chiều ngày 27/4/2024 chị Nguyễn Thị T1 đã bán cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ.
Vào ngày 01/5/2024 do nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên Nguyễn Văn D đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS 37B2-427.63 là chiếc xe mô tô Nguyễn Văn D sử dụng để làm phương tiện đi cướp tài sản.
- - 01 áo phông ngắn tay màu trắng của Nguyễn Văn D.
- - 01 quần xoóc lửng màu xanh rêu của Nguyễn Văn D.
- - 01 đôi dép màu đen của Nguyễn Văn D.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 09/5/2024 Ủy ban nhân dân huyện Đ kết luận: Một dây chuyền vàng loại TKJ 610 có trọng lượng 2,926 chỉ của chị Nguyễn Thị H bị Nguyễn Văn D cướp giật có giá 14.040.000 đồng.
Ngày 09/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chị Nguyễn Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS 37B2-427.63 là chiếc xe mô tô Nguyễn Văn D sử dụng để làm phương tiện đi cướp tài sản (anh Võ Văn S chồng chị C trực tiếp ký nhận tài sản)
Ngày 09/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương các vật chứng vụ án gồm:
- - 01 áo phông ngắn tay màu trắng trên trước mặt áo có dòng chữa “CLOTHINGFASHION” và “unfinching” đã qua sử dụng.
- - 01 quần xoóc lửng màu xanh rêu, phía bên trong quần có mác ghi chữa “MADE IN HONGKONG: 29”, đã qua sử dụng.
- - 01 đôi dép màu đen, trên mặt dép ghi chữ “NiKe”, dưới lòng dép có ghi chữ “PH SPORT FASHION”, đã qua sử dụng.
Ngày 12/5/2024 bị hại chị Trần Thị H1 đã nhận số tiền bồi thường 14.040.000đồng (mười bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn) từ bà Hồ Thị B (bà B là Mẹ bị cáo Nguyễn Văn D), chị Nguyễn Thị H không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự và có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số 93/CT-VKS-NL ngày 09/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
V biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 áo phông ngắn tay màu trắng trên trước mặt áo có dòng chữa “CLOTHINGFASHION” và “unfinching” đã qua sử dụng.
- - 01 quần xoóc lửng màu xanh rêu, phía bên trong quần có mác ghi chữa “MADE IN HONGKONG: 29”, đã qua sử dụng.
- - 01 đôi dép màu đen, trên mặt dép ghi chữ “NiKe”, dưới lòng dép có ghi chữ “PH SPORT FASHION”, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận đầy đủ tiền bồi thường trách nhiệm dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận đầy đủ tài sản. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về mặt dân sự nên đề nghị không xem xét.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T1 vắng mặt, tuy nhiên lời khai của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, bị hại đã nhận đầy đủ tiền bồi thường, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vậy việc vắng mặt không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về nội dung vụ án:
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và vật chứng được thu giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 26/4/2024 tại đường X xã L, huyện Đ, Nguyễn Văn D, điều khiển xe mô tô đã cướp giật chiếm đoạt một sợi dây chuyền vàng trị giá 14.040.000 đồng của chị Nguyễn Thị H sau đó bán tiêu xài cá nhân hết. Hành vi của Nguyễn Văn D thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Cướp giật tài sản" được quy định tại khoản điểm d, i khoản 2 điều 171 Bộ luật Hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử chấp nhận để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.
- Xét tính chất, nhân thân:
Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Về nhân thân bị cáo đang còn tiền án, đã từng bị Tòa án đưa ra xét xử 05 lần, điều này càng thể hiện sự liều lĩnh và coi thường pháp luật của bị cáo nên cần phải lên một mức án tương xứng để răn đe, phòng ngừa tội phạm.
- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động với người nhà bồi thường cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện ra đầu thú ( là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).
Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS 37B2-427.63 là chiếc xe mô tô Nguyễn Văn D sử dụng để làm phương tiện đi cướp tài sản, Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này Nguyễn Văn D mượn của em dâu là chị Nguyễn Thị C. Việc Nguyễn Văn D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội chị Nguyễn Thị C không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công An huyện Đ đã xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị C là đúng quy định của pháp luật
Quá trình điều tra cơ quan Công an huyện Đ đã thu giữ:
- 01 áo phông ngắn tay màu trắng trên trước mặt áo có dòng chữa “CLOTHINGFASHION” và “unfinching” đã qua sử dụng
- 01 quần xoóc lửng màu xanh rêu, phía bên trong quần có mác ghi chữa “MADE IN HONGKONG: 29”, đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, trên mặt dép ghi chữ “NiKe”, dưới lòng dép có ghi chữ “PH SPORT FASHION”, đã qua sử dụng. Xét đây là đồ dùng cá nhân của Nguyễn Văn D liên quan đến hành vi phạm tội, xét tài sản không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự nguyện thỏa thuận xong tiền bồi thường, chị Nguyễn Thị H đã nhận số tiền 14.040.000 đồng từ gia đình bị cáo nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị T1 không yêu cầu gì về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Các vấn đề khác: đối chị Nguyễn Thị T1 chủ cửa hàng V1, tại xóm B, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An là người mua 01 dây chuyền vàng của bị cáo. Qua điều tra xác minh, chị T1 không biết được tài sản đó là do bị cáo Cướp giật mà có mà có nên chị T1 không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 01/5/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo
- Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 áo phông ngắn tay màu trắng trên trước mặt áo có dòng chữa “CLOTHINGFASHION” và “unfinching” đã qua sử dụng.
- - 01 quần xoóc lửng màu xanh rêu, phía bên trong quần có mác ghi chữa “MADE IN HONGKONG: 29”, đã qua sử dụng.
- - 01 đôi dép màu đen, trên mặt dép ghi chữ “NiKe”, dưới lòng dép có ghi chữ “PH SPORT FASHION”, đã qua sử dụng
- Về án phí: áp dụng Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đạt |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN về cướp giật tài sản (hình sự)
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội cướp giật tài sản
