Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 25-7-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Võ Thanh Đức.
  • 2. Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: DIỆP THỊ CẨM T, sinh năm: 2001 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Diệp Hồng S (Đã chết) và bà Lê Thị Kim P, sinh năm: 1978; Chồng Trần Thanh S1, sinh năm: 1994 và hai người con chung; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Diệp Thị Cẩm T đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Lê Thị Trúc P1, sinh năm: 1984; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố G, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Huỳnh Thị Như Q, sinh năm: 1989; (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Khu phố B, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

  2. Ông Lữ Bội Đ, sinh năm: 1988; (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

  3. Trương Lệ Cẩm L, sinh năm: 1991; (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận;

  4. Ông Trịnh Minh C, sinh năm: 1979; (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

  5. Ông Trần Thanh S1, sinh năm: 1994; (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Diệp Thị Cẩm T, sinh năm: 2001, trú thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận là người giúp việc nhà từ tháng 10/2023 cho chị Lê Thị Trúc P1, sinh năm: 1984, tại khu phố G, phường B, thị xã L. Do hàng ngày dọn dẹp nhà cửa cho gia đình chị P1 nên T biết chị P1 thường để tiền, vàng trong tủ quần áo, cất trong phòng ngủ và T đã có ý định lấy trộm để trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Khoảng 07 giờ ngày 21/4/2024, lợi dụng lúc vợ chồng chị P1 đi vắng, không khóa cửa phòng ngủ, Diệp Thị Cẩm T đã lẻn vào phòng lục trong tủ quần áo lấy ra một chiếc hộp bằng kim loại nhôm, màu trắng, có khóa bằng mã số (T khai hộp không khóa), T mở hộp lấy trộm 11 chiếc nhẫn tròn trơn bằng vàng 24 k, trọng lượng mỗi chiếc 01 chỉ và 01 tờ tiền đô la Mỹ (USD) mệnh giá 100 USD rồi bỏ toàn bộ tài sản trộm cắp được vào túi xách mang theo sau đó làm việc bình thường, đến chiều cùng ngày T đem túi xách đựng tài sản trộm cắp nói trên về nhà của T cất giấu. Khoảng 17 giờ ngày 22/4/2024, T đem 04 chiếc nhẫn, trọng lượng 04 chỉ đến tiệm V ở khu phố D, phường P, thị xã L bán cho ông Lữ Bội Đ (chủ tiệm) được số tiền 27.320.000 đồng. Chiều ngày 23/4/2024, T đem 03 chiếc nhẫn, trọng lượng 03 chỉ đến tiệm V1 ở khu phố B, phường T, thị xã L bán cho bà Huỳnh Thị Như Q (chủ tiệm) được số tiền 20.400.000 đồng. Ngày 25/4/2024, T đem 02 chiếc nhẫn, trọng lượng 02 chỉ đến tiệm V2 ở thôn L, xã T, huyện H bán cho bà Trương Lệ Cẩm L (chủ tiệm) được số tiền 12.600.000 đồng. Còn lại 02 chỉ vàng và 01 tờ tiền Đô La Mỹ Tú tiếp tục đem đến tiệm V1 bán cho bà Q vào các ngày 26 và ngày 28/4/2024, trong đó 01 chỉ vàng bán được 12.600.000 đồng và tờ tiền đô la Mỹ bán được 2.400.000. Tổng tiền bán vàng và đô la nói trên được 75.320.000 đồng.

Số tiền sau khi bán tài sản trộm cắp của chị P1, Diệp Thị Cẩm T khai đã sử dụng 20.000.000 đồng để làm sân và lợp mái tôn khu vực nhà ở, mua 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 86B6-238.25 của ông Trịnh Minh C, sinh năm 1979, trú thôn T, xã T, thị xã L với giá 17.500.000 đồng, còn lại T khai dùng tiêu xài cá nhân. Khi bị phát hiện, còn lại 21.500.000 đồng T giao nộp cho cơ quan điều tra.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 52/KL-ĐGTS ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận:

  • 11 chiếc nhẫn vàng 24K, loại 950, tại thời điểm xảy ra vụ việc, có giá trị là: 11 chỉ x 6.880.000 đồng/chỉ = 75.680.000 đồng.
  • 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 100 đô la Mỹ, có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là: 100USD x 25.170 đồng = 2.517.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản Diệp Thị Cẩm T trộm cắp của chị Lê Thị Trúc P1 là 78.197.000 đồng.

Vật chứng vụ án là 11 chiếc nhẫn vàng 24K, loại 950, sau khi trộm cắp Diệp Thị Cẩm T đã đem đến bán cho các tiệm kinh doanh vàng bạc. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã đến làm việc với các chủ tiệm này là ông Lữ Bội Đ, bà Huỳnh Thị Như Q và bà Trương Lệ Cẩm L. Những người này cho biết, không biết vàng T đem đến bán là tài sản trộm cắp nên sau khi mua số vàng của T đã bỏ chung với số vàng thu mua của khách hàng trong ngày, chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh thuê thợ gia công thành các kiểu trang sức khác để bán; 01 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 100 USD chị Q khai không mua của T và không biết T bán cho ai nên không thu hồi được.

Về phần dân sự: Diệp Thị Cẩm T đã bồi thường số tiền 75.500.000 đồng (là tiền T bán vàng và 01 tờ tiền mệnh giá 100 USD trộm cắp) cho chị Lê Thị Trúc P1, chị P1 đã đồng ý nhận tài sản, không yêu cầu T bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ông Trịnh Minh C đồng ý trả lại số tiền 17.500.000 đồng để lấy lại chiếc xe đã bán cho bị cáo T và không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKSLG-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Diệp Thị Cẩm T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Diệp Thị Cẩm T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Diệp Thị Cẩm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Diệp Thị Cẩm T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Diệp Thị Cẩm T đã bồi thường số tiền 75.500.000 đồng (là tiền T bán vàng và 01 tờ tiền mệnh giá 100 USD trộm cắp) cho chị Lê Thị Trúc P1, chị P1 đã đồng ý nhận tài sản, không yêu cầu T bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Ông Trịnh Minh C đồng ý trả lại số tiền 17.500.000 đồng để lấy lại chiếc xe đã bán cho bị cáo T và không có yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị không xét.

Đối với ông Lữ Bội Đ, bà Huỳnh Thị Như Q, bà Trương Lệ C1 do không biết tài sản mà T đem đến bán là trộm cắp nên đề nghị không xem xét xử lý.

Tại phiên tòa bị cáo T xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị cáo bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 07 năm tù, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

[3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ ngày 21/4/2024, Diệp Thị Cẩm T đã có hành vi lén lút lấy trộm 11 chiếc nhẫn bằng vàng 24 k, trọng lượng mỗi chiếc 01 chỉ và 01 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 100 USD của chị Lê Thị Trúc P1 ở tại khu phố G, phường B. Tổng giá trị tài sản T trộm cắp là 78.197.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải bằng còn đường lao động chân chính nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản, thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc nhân thân phạm tội lần đầu của bị cáo.

Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả đây là 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Diệp Thị Cẩm T đã bồi thường số tiền 75.500.000 đồng (là tiền T bán vàng và 01 tờ tiền mệnh giá 100 USD trộm cắp) cho chị Lê Thị Trúc P1, chị P1 đã đồng ý nhận tài sản, không yêu cầu T bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Ông Trịnh Minh C đồng ý trả lại số tiền 17.500.000 đồng để lấy lại chiếc xe đã bán cho bị cáo T và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với ông Lữ Bội Đ, bà Huỳnh Thị Như Q, bà Trương Lệ C1 do không biết tài sản mà T đem đến bán là trộm cắp nên Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Diệp Thị Cẩm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Diệp Thị Cẩm T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Diệp Thị Cẩm T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/7/2024); Quyền kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Biện Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Diệp Thị Cẩm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Diệp Thị Cẩm T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Diệp Thị Cẩm Tú phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger