TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 7 - 2024 Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Bình
2. Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2024; về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 103/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số A, đường N, khu phố E, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn T, bà Nguyễn Thị Q tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn ông T, bà Q chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà T nhắn tin, liên lạc với người đàn ông khác. Khi phát hiện ông T đã nhiều lần bỏ qua, đồng thời khuyên bảo, tác động bà Q thay đổi để vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng không có kết quả. Vào tháng 11/2023 bà Q đã bỏ về xã N, huyện Đ sinh sống cho đến nay, từ đó vợ chồng sống ly thân và không có yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện nay ông T không còn tình cảm với bà Q, nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn. Quá trình chung sống ông T, bà Q không có con chung; về tài sản chung, nợ chung ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo hồ sơ vụ bị đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân bà Q thống nhất như phần trình bày của ông T. Sau khi kết hôn bà Q ông T chung sống hạnh phúc, sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T có người phụ nữ khác, nên không còn chăm lo cho bà Q, khi phát hiện bà Q có khuyên bảo nhưng ông T chối bỏ và còn đánh đập, chưởi bới bà Q, sự việc được chính quyền địa phương can thiệp. Sau đó bà Q bỏ về xã N, huyện Đ sinh sống, từ đó vợ chồng sống ly thân. Việc ông T khởi kiện ly hôn bà Q không đồng ý vì ông T chưa giải thích rõ cho bà T; Quá trình chung sống bà Q, ông T chưa có con chung; Về tài sản chung, nợ chung liên quan trong vụ án bà Q không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bị đơn bà Nguyễn Thị Q hiện cư trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn ông Nguyễn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Q. Nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Vụ án T1 án không tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, đồng thời đối tượng tranh chấp là ly hôn, nên không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[4] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Q không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Ông Nguyễn T, bà Nguyễn Thị Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 21/11/2022, số vào sổ 175/2022, tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện Đ đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[6] Sau khi kết hôn ông T, bà Q chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng ghen tuông, nghi ngờ nhau có quan hệ bất chính với người khác. Mặc dù ông T, bà Q đã tự khuyên bảo, động viên, an ủi nhay thay đổi, để chung sống hạnh phúc, nhưng không có kết quả. Ông T thừa nhận hiện nay không còn tình cảm với bà Q. Quá trình làm việc bà Q cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng thời gian qua có nảy sinh mâu thuẫn. Hiện nay ông T, bà Q đã sống ly thân và không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau.
Điều này chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà Q đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho ông T được ly hôn với bà Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[7] Ông T, bà Q trình bày không có con chung; Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
[8] Ông T phải chịu án phí ly hôn.
[9] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Q.
Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 21/11/2022, số vào số 175/2022, tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Ông Nguyễn T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004409, ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Ông T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Trường |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh-Nguyễn Thị Qua
