Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/DS-ST

Ngày: 24 – 6 – 2024

“V/v Tranh chấp hợp

đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
  2. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Ông Âu Hoàng Mến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 344/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng N ;

Địa chỉ: Số nhà 02 đường L, phường Th, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc Tr, sinh năm 1984 (Có mặt).

Địa chỉ: Số nhà 45C đường Ng, Khóm A, Phường A, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Cao Hoàng V, sinh năm 1974 (vắng mặt).
  • Chị Cao Xuân Th, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  • Chị Cao Thị Diễm M, sinh năm 1977 (vắng mặt).
  • Chị Cao Thị Diễm X, sinh năm 1978 (vắng mặt).
  • Chị Cao Thị B, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  • Chị Cao Thị Tr1, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tân Hòa, xã Vĩnh Tân, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30/9/2023 của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện do nguyên đơn ủy quyền bà Huỳnh Ngoc Tr trình bày:

Ngày 18/10/2018, Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (gọi tắt là Ngân hàng) với bà Nguyễn Thị H đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801010. Theo Hợp đồng, Ngân hàng cho bà H vay số tiền 250.000.000₫ (hai trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi Tôm; lãi suất 10.5%/năm; trả lãi hàng quý, thời hạn vay là 36 tháng, trả nợ gốc theo phân kỳ vào ngày 15/10/2021.

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, bà Nguyễn Thị H đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/36/2018/VT ngày 18/10/2018, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số H 802817, diện tích 21.059m² tại thửa số 184 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; được được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Châu (nay là thị xã Vĩnh Châu) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H ngày 10/5/1997.

Tính đến ngày 24/6/2024, bà Nguyễn Thị H còn nợ của Ngân hàng tổng cộng là 433.400.000đ (bốn trăm ba mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng) trong đó tiền nợ gốc là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 124.979.167₫ (một trăm hai mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi chín nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 58.420.833đ (năm mươi tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn tám trăm ba mươi ba đồng). Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với bà H yêu cầu thanh toán nghĩa vụ trả nợ nêu trên, tuy nhiên bà H vẫn không thực hiện.

Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng buộc bà Nguyễn Thị H và bà Cao Xuân Th phải liên đới thanh toán.

Nay Ngân hàng sửa đổi một phần yêu cầu khởi kiện là chỉ buộc bà Nguyễn Thị H thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên. Đồng thời, yêu cầu bà H phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Trường hợp bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong quá trình giải quyết, bà H trình bày: Đúng là vào ngày 18/10/2018, bà H có vay của Ngân hàng vốn gốc là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay để nuôi Tôm; lãi suất 10.5%/năm; trả lãi hàng quý, thời hạn vay là 36 tháng, trả nợ gốc theo phân kỳ vào ngày 15/10/2021. Hiện nay, bà H vẫn còn nợ vốn gốc là 250.000.000₫ (hai trăm năm mươi triệu đồng) và lãi đúng như Ngân hàng trình bày.

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, bà H đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/36/2018/VT ngày 18/10/2018, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số H 802817, diện tích 21.059m² tại thửa số 184 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; được được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Châu (nay là thị xã Vĩnh Châu) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H ngày 10/5/1997.

Nay, bà H xin Ngân hàng gia hạn cho bà mỗi tháng trả cho Ngân hàng 2.000.000đ (hai triệu đồng), nếu bán được đất, bà H sẽ thanh toán toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng. Trường hợp, nếu bà vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì bà H đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng V vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết, anh V trình bày: Anh V thống nhất với lời trình bày của bà H . Thời điểm bà Hồng vay Ngân hàng và thế chấp quyền sử dụng đất để vay, anh V có biết nhưng thời điểm đó do đã chuyển hộ khẩu riêng nên anh V không có ký vào hợp đồng ủy quyền thế chấp. Phần đất thế chấp là tài sản của bà H, nên bà H toàn quyền quyết định, anh V không có ý kiến gì. Nay, bà H lớn tuổi nên anh V xin Ngân hàng gia hạn cho thời gian để bà H bán đất được sẽ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Trường hợp, bà H không thanh toán nợ mà Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì anh V đồng ý, không có ý kiến phản đối.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1 không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự nhưng chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1 cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 31/5/2024, chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1 vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Chứng cứ Tòa án thu thập được là: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn Nguyễn Thị H ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng V, chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1 mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn Nguyễn Thị H ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng V, chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1 theo quy định của pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Nguyễn Thị H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi đến ngày 24/6/2024 tổng cộng là 433.400.000đ (bốn trăm ba mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng) trong đó tiền nợ gốc là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 124.979.167đ (một trăm hai mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi chín nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 58.420.833₫ (năm mươi tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn tám trăm ba mươi ba đồng). Đồng thời, bà H còn phải tiếp tục liên đới trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 25/6/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thị H cư trú tại ấp T, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Thị H ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng V, chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1 đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Nguyễn Thị H; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng V, chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1.

[2] Về nội dung giải quyết:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1.1] Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801010 ngày 18/10/2018. Bà H đã nhận đủ số tiền vay là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm. Nội dung của hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801010 ngày 18/10/2018 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân và bà H đã nhận đủ tiền vay là 250.000.000₫ (hai trăm năm mươi triệu đồng). Như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

Sau khi vay được tiền, bà H đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả toàn bộ số nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

[2.1.2] Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801010 ngày 18/10/2018 có lãi suất thỏa thuận là 10.5%/năm; trả lãi hàng quý. Đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

Kể từ ngày 25/6/2024, bà H còn phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

[2.2] Tại đơn khởi kiện, Nguyên đơn yêu cầu chị Cao Xuân Th cùng liên đới với bà Hồng trả toàn bộ các khoản nợ của Ngân hàng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu chị Cao Xuân Th cùng liên đới với bà Hồng trả nợ mà chỉ yêu cầu bà H trả các khoản nợ của Ngân hàng. Do nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:

Đối với yêu cầu đề nghị xử lý khối tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, bà Nguyễn Thị H đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/36/2018/VT ngày 18/10/2018, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số H 802817, được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Châu (nay là thị xã Vĩnh Châu) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H ngày 10/5/1997; diện tích 21.059m² tại thửa số 184 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; có vị trí tứ cận như sau:

  • Hướng Đông giáp thửa 66 và 177.
  • Hướng Tây giáp thửa 67, 17 và 191.
  • Hướng Nam giáp Kênh.
  • Hướng Bắc giáp thửa 127.

Trên đất cải tạo thành 05 ao nuôi Tôm hiện bỏ hoang không nuôi. Tài sản có:

  • 01 cái chòi nuôi Tôm, cột cây, nền đất, mái lợp tol xi măng, chiều ngang 5m x dài 4m.

Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản thì bà H tự nguyện, trực tiếp ký kết với Ngân hàng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H và anh V thừa nhận phần đất này của bà H hiện nay bà H đang quản lý sử dụng. Đồng thời, bà H đồng ý cho Ngân hàng được đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thi hành án nếu bà không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử nhận định: Khi ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản, đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp do hai bên ký kết có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bà Hồng vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó, trường hợp bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp thì bị đơn Nguyễn Thị H; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng V, chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1 phải bàn giao tài sản theo Hợp đồng thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bà H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bà Hồng phải trả lại cho nguyên đơn số tiền nêu trên là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bà H phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV. Tuy nhiên bà H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên bà H không phải chịu án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

[5] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 295, 303, 325, 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng N dư nợ tính đến ngày 24/6/2024 tổng cộng là 433.400.000đ (bốn trăm ba mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng) trong đó tiền nợ gốc là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 124.979.167đ (một trăm hai mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi chín nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 58.420.833₫ (năm mươi tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn tám trăm ba mươi ba đồng).
  3. Đồng thời bà H còn phải trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 25/6/2024 cho đến khi trả xong số nợ gốc.

  4. Trường hợp bà Nguyễn Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì bị đơn Nguyễn Thị H; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng V, chị Cao Xuân Th, chị Cao Thị Diễm M, chị Cao Thị Diễm X, chị Cao Thị B và chị Cao Thị Tr1 phải bàn giao tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/36/2018/VT ngày 18/10/2018, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số H 802817, được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Châu (nay là thị xã Vĩnh Châu) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H ngày 10/5/1997; diện tích 21.059m² tại thửa số 184 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp T, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; có vị trí tứ cận như sau:
    • Hướng Đông giáp thửa 66 và 177.
    • Hướng Tây giáp thửa 67, 17 và 191.
    • Hướng Nam giáp Kênh.
    • Hướng Bắc giáp thửa 127.

    Trên đất cải tạo thành 05 ao nuôi Tôm hiện bỏ hoang không nuôi. Tài sản có:

    • 01 cái chòi nuôi Tôm, cột cây, nền đất, mái lợp tol xi măng, chiều ngang 5m x dài 4m.
  5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị H chịu là 750.000₫ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền này nguyên đơn Ngân hàng N đã nộp xong, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn 750.000₫ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu là 21.336.000₫ (hai mươi mốt triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Nhưng do bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên không phải nộp án phí.
  7. Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.537.630đ (chín triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn sáu trăm ba mươi đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008639 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

  8. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

VÕ THỊ HIẾU

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 84/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger