Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 84/2024/HS-PT

Ngày: 23/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Chuyển;

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Long

Ông Bùi Trọng Danh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Lĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 212/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Vũ Duy K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2023/HS-ST ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo: Vũ Duy K, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1971 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Số A đường N, tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Duy H và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); Có vợ là Đỗ Thị T1 và có hai con (con lớn nhất sinh năm 2005 và nhỏ nhất sinh năm 2008). Tiền án, Tiền sự: Không.

Về nhân thân:

Ngày 22/8/1991 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 75/1991/HS-PT)

Ngày 01/8/1994 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 102/1994/HS-PT)

Ngày 28/10/1994 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 188/1994/HS-ST)

Ngày 27/10/1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (Bản án số 78/1999/HS-PT).

Ngày 30/9/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (Bản án số 244/2009/HS-PT).

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt: Ông Nguyễn Quý T2, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án được triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm gồm:

  1. Ông Vũ Duy T3, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
  2. Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Số : đường N, tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 24 tháng 3 năm 2023, anh Nguyễn Quý T2 đang đi bộ về cơ quan tại số A N, quận S, thành phố Đà Nẵng thì gặp Vũ Duy K đi nhậu với bạn về, đang chuẩn bị dắt xe vào nhà tại K đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Khi đi ngang qua K, do thấy K nhìn mình nên anh T2 hỏi “Ông nhìn cái gì vậy?” thì giữa anh T2 và K xảy ra cãi nhau, lời qua tiếng lại. Cho rằng anh T2 có thái độ hỗn láo, xấc xược đối với mình nên K xông vào, khoảng cách giữa hai người lúc này khoảng 0,5m, K đứng đối diện dùng cùi chỏ tay trái đánh một cái trúng vào vùng đuôi cung mày phải của anh T2 thì anh T2 dùng tay đánh trả lại trúng vào môi và miệng của K. Tiếp đó, K dùng tay phải đấm một cái trúng vào mũi và miệng của anh T2 thì anh T2 dùng chân phải đá thẳng vào bụng K rồi dùng tay quật K ngã xuống đường. Lúc này nghe tiếng ồn ào nên anh Nguyễn Thế Đ (hàng xóm), bà Đỗ Thị T1 là vợ của K và Vũ Kim K1 là con gái của K chạy ra ôm K can ngăn, anh Vũ Duy T3 là em ruột của K chạy đến kéo anh T2 ra thì sự việc chấm dứt. Hậu quả, làm anh T2 bị thương tích ở vùng đuôi cung mày phải, gãy 1/3 răng cửa và gãy mũi. K bị dập ở môi và trầy xướt ở vùng đầu.

Ngày 28/3/2023, anh Nguyễn Quý T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Do thương tích không đáng kể nên ngày 25/5/2023 K có đơn không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với phần thương tích này.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 113/KLTTCT-TTPYĐN ngày 24/5/2023 của Trung tâm giám định pháp y thành phố Đ thì anh Nguyễn Quý T2 bị cáo tổn thương như sau:

  • Chấn thương gãy xương chính mũi đã phẩu thuật, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 08%.
  • Vết thương vùng mặt (VI) đã lành tạo sẹo, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 03%.
  • Vết thân răng R12, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 02%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các thương tích nêu trên là: 13%. Các tổn thương trên do ngoại lực tác động trực tiếp. Vật tác động phù hợp với vật tày gây nên.

Với nội dung trên: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Duy K phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 (điểm i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Duy K: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự; phần xử lý vật chứng, về án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 15/11/2023 bị cáo Vũ Duy K có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án với nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem lại việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để có điều kiện làm ăn lo cho các con ăn học.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Vũ Duy K giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem lại toàn bộ về nguyên nhân dẫn đến sự việc và diễn biến hành vi mà bị cáo gây ra cho bị hại (anh T2) vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 24/3/2023, để xem xét lại việc áp dụng pháp luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, bị cáo chỉ bị Cơ quan điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo đơn yêu cầu của anh Nguyễn Quý T2 và Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra trong giai đoan xét xử phúc thẩm anh T2 cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án. Vì vậy, bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét lại một cách khách quan toàn diện về hành vi của bị cáo (không có tính côn đồ đối với anh T2) xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để có điều kiện làm ăn nuôi các con ăn học.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Duy K trong hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung: Qua xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo K thừa nhận khoảng 22 giờ 00 ngày 24/3/2023 tại trước số nhà A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, bị bức xúc bởi anh T2 có thái độ hỗn láo, xấc xược với mình nên đã có hành vi dùng tay đánh vào vùng mặt đuôi cung mày trái, vùng mũi, miệng của anh T2 gây ra hậu quả anh T2 bị tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ thương tích 13%. Ngày 28/3/2023 anh T2 có đơn gởi đến Công an quận S, thành phố Đà Nẵng yêu cầu khởi tố vụ án. Do đó, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm, khởi tố, điều tra, truy tố bị cáo K ra trước Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng để xét xử bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm nhận thấy giữa bị cáo K và bị hại T2 không có quen biết, không có mâu thuẩn với nhau từ trước, chỉ vì một nguyên cớ nhỏ nhặt và trong một thời gian ngắn (01 đến 02 phút) bị cáo đã dùng vũ lực bằng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt, mũi, miệng anh T2 gây ra thương tích 13%, bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi cố ý gây thương tích và lần này bị cáo tiếp tục có hành vi gây thương tích cho anh T2, nên hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là thuộc tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự (Giới hạn của việc xét xử), không oan, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo.

Về hình phạt: Mức hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội nhằm mục đích răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại anh T2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, sau đó tiếp tục có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án, bị cáo bổ sung đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, đơn cứu xét (xác nhận về nhân thân), giấy xác nhận được chính quyền địa phương sở tại và công ty N bị cáo làm việc xác nhận, đồng thời bị cáo cũng đã tự nguyện nộp tiền án phí 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) khi Bản án chưa có hiệu lực thi hành. Xét đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo sửa Bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (điểm i khoản 1); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Duy K khai nhận vào khoảng 22 giờ 00 ngày 24/3/2023 tại số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, do bực tức anh T2 có thái độ xấc xược, hỗn láo đối với bị cáo trong lúc bị cáo có sử dụng bia, rượu (không kìm chế bản thân) nên đã có hành vi dùng cùi chỏ tay trái đánh trúng vào vùng mắt, và dùng tay đấm vào vùng mặt, mũi, miệng anh Nguyễn Quý T2. Anh Nguyễn Quý T2 cũng có hành vi dùng chân đá vào bụng sau đó dùng tay quật bị cáo nằm ngã xuống đất, người nhà bị cáo ra can ngăn, hai bên chấm dứt việc đánh nhau. Sau khi sự việc xảy ra, anh T2 tự đi khám thương tích, được Trung tâm giám định pháp y thành phố Đ kết luận: Tổng tỷ lệ thương tích bị tổn thương cơ thể là 13%. Bị cáo cũng bị anh T2 đánh gây trầy xước vùng đầu, vùng môi bị dập (Do thương tích không đáng kể nên bị cáo không có đơn yêu cầu giám định thương tích). Ngày 28/3/2023 anh T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, Công an quận S, thành phố Đà Nẵng khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 17/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cho rằng hành vi của bị cáo đối với bị hại anh T2 là “Có tính chất côn đồ” quy định tại (điểm i khoản 1) là tình tiết định khung tăng nặng để xét xử bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam là quá nghiêm khắc. Trong khi đó, về nguyên nhân và diễn biến của hành vi bị cáo gây ra cho bị hại cũng có một phần lỗi của anh T2, như bị cáo đã khai. Vì vậy, bị cáo để nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét lại việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, để xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương làm ăn nuôi con ăn học như đơn đề nghị của anh T2 tại cấp phúc thẩm.

[2] Bị hại anh Nguyễn Quý T2, sau khi xét xử sơ thẩm anh không có đơn kháng cáo bản án, tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo đơn kháng cáo của bị cáo K, thì ngày 09/01/2024 anh T2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo Vũ Duy K được hưởng án treo, sau đó ngày 26/3/2024 anh T2 tiếp tục có đơn xin rứt yêu cầu khởi tố vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm mở ngày 11/3/2023 anh T2 khai rằng việc bị cáo K có hành vi gây thương tích cho anh là do bộc phát tức thời, có một phần lỗi của anh trong lời qua tiếng lại, hành vi của bị cáo K không có tính côn đồ, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay anh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt và trong đơn anh cũng đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo K được cải tạo tại địa phương để làm ăn nuôi con.

[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo và ý kiến đề nghị của bị hại anh T2, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về nội dung kháng cáo của bị cáo đối với việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa bị cáo và bị hại không hề có mâu thuẩn với nhau từ trước, nhưng chỉ vì một nguyên cớ nhỏ nhặt từ câu nói của anh T2 “Ông nhìn cái gì vậy?” thì lập tức bị cáo cho rằng anh T2 hỗn láo, xấc xược với mình nên đã xông vào dùng vũ lực bằng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt, mũi, miệng anh T2 gây ra thương tích 13%; bản thân bị cáo là người có nhân thân không tốt, trước đây đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi Cố ý gây thương tích, điều đó cho thấy bản tính của bị cáo là côn đồ, hung hãn luôn coi thường tính mạng, sức khỏe người khác, ... Vì vậy, hành vi dùng vũ lực bằng tay đánh, đấm anh T2 gây ra thương tích cho anh T2 với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 13% là có tính chất côn đồ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là thuộc tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự về (Giới hạn của việc xét xử) để xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, nên nội dung kháng cáo này của bị cáo không được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.

[3.2] Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm tuy đánh giá đúng tính chất vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cũng như xem xét về nhân thân của bị cáo, qua đó xử phạt hình phạt tù có thời hạn đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, về mức hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ về hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra cho bị hại không lớn, người bị hại cũng có một phần lỗi; trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng là bất lợi cho bị cáo; mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo và bổ sung các đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, đơn cứu xét (xác nhận về nhân thân), giấy xác nhận được chính quyền địa phương sở tại và công ty nơi bị cáo làm việc xác nhận, và tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) khi Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực thi hành; trong giai đoạn Tòa án chuẩn bị xét xử phúc thẩm, người bị hại Nguyễn Quý T2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, sau đó tiếp tục có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án. Xét đây là các tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại các cấp sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự như đã nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa. Riêng việc bị hại xin rút yêu cầu khởi tố vụ án và xin cho bị cáo được hưởng án treo là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Đối với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) bị cáo K tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng thì tiếp tục quy trữ, tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1.1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Duy K về việc xin giảm nhẹ hình phạt, sửa Bản án sơ thẩm số: 118/2023/HSST ngày 03/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

II. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 (điểm i khoản 1) Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.1. Xử phạt: Bị cáo Vũ Duy K: 01(một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

III. Tiếp tục quy trữ tạm giữ số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) do bị cáo Vũ Duy K tự nguyện nộp theo Biên lai thu tiền số: 0001393 ngày 13/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng để đảm bảo việc thi hành án.

IV. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Duy K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

V. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

VI. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
  • - Phòng HSNV - CATP Đà Nẵng;
  • - TAND quận Sơn Trà;
  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Cơ quan CSĐT CAQ Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Sở Tư pháp TP Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký và đóng dấu)

Phan Vĩnh Chuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về cố ý gây thương tích (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 84/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 22 giờ 00 ngày 24/3/2023 tại số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, do bực tức anh T2 có thái độ xấc xược, hỗn láo đối với bị cáo trong lúc bị cáo có sử dụng bia, rượu (không kìm chế bản thân) nên đã có hành vi dùng cùi chỏ tay trái đánh trúng vào vùng mắt, và dùng tay đấm vào vùng mặt, mũi, miệng anh Nguyễn Quý T2. Anh Nguyễn Quý T2 cũng có hành vi dùng chân đá vào bụng sau đó dùng tay quật bị cáo nằm ngã xuống đất, người nhà bị cáo ra can ngăn, hai bên chấm dứt việc đánh nhau. Sau khi sự việc xảy ra, anh T2 tự đi khám thương tích, được Trung tâm giám định pháp y thành phố Đ kết luận: Tổng tỷ lệ thương tích bị tổn thương cơ thể là 13%. Bị cáo cũng bị anh T2 đánh gây trầy xước vùng đầu, vùng môi bị dập (Do thương tích không đáng kể nên bị cáo không có đơn yêu cầu giám định thương tích). Ngày 28/3/2023 anh T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, Công an quận S, thành phố Đà Nẵng khởi tố vụ án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger