|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ngày 22 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và ông Nguyễn Thanh Trang.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Trần Văn N, sinh ngày 26/10/2991; nơi sinh: C, An Giang; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; trình độ học vấn: không biết chữ; nghề nghiệp: không; con ông Trần Văn Đ, bà Trương Thị L, vợ Lưu Ngọc T, có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2023 cho đến nay (có mặt).
- Nguyễn Văn L1, sinh ngày 08/11/1999; nơi sinh: C, An Giang; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp C, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Văn H và con bà Trương Thị D, gia đình bị cáo có 03 anh chị em; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2023 cho đến nay (có mặt).
- Võ Nhựt L2, sinh ngày 16/6/2001; nơi sinh: T, An Giang; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ I, ấp B, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: không; con ông Võ Văn C và con bà Nguyễn Thị T1, gia đình bị cáo có 02 anh chị em; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2023 cho đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Lưu Ngọc T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ A, khóm V, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng: Trần Văn Đ, sinh năm 1955 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 15/8/2023, Công an phường N, thành phố C nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có một số thanh niên tụ tập để sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi tiếp nhận thông tin, lực lượng Công an phường N, thành phố C đi đến địa điểm kiểm tra, phát hiện Trần Văn N, Nguyễn Văn L1, Võ Nhựt L2 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên lực lượng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N, L1, L2 cùng tang vật.
Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 09 giờ ngày 15/8/2023, N điện thoại rủ L2 và L1 đến nhà của N để cùng sử dụng ma túy thì L2, L1 đồng ý. Khi L2, L1 đến nhà thì N lấy 01 bình hút còn lại một ít ma túy cho L2 và L1 sử dụng, sau đó N rủ L2 và L1 hùn mỗi người 100.000 đồng để mua ma túy sử dụng tiếp, L2, L1 đồng ý, N điện thoại cho 01 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy đá và hẹn địa điểm giao nhận tại khu vực cống Ranh gần phường Đ. N đi đến điểm hẹn gặp 01 người thanh niên đeo khẩu trang, điều khiển xe mô tô Wave màu đỏ (không rõ biển số) nhận ma túy xong N cất giấu ma túy đem về nhà để cùng sử dụng với L2 và L1, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phường N phát hiện bắt quả tang cùng tang vật
Tại Kết luận giám định số 167/KL-KTHS (MT-GT) ngày 22/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamie, khối lượng 0,6142 gam”.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSNDCĐ-HS ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Trần Văn N “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn L1 và Võ Nhựt L2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Chủ tọa công bố Kết luận số 167/KL-KTHS (MT-GT) ngày 22/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A.
Các bị cáo N, L1, L2 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn L1 và Võ Nhựt L2 như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 07 năm đến 08 năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo N từ 08 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn L1, Võ Nhựt L2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Áp dụng các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và bao gói ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 cái bình có gắn nỏ thủy tinh, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng, 01 bật lửa. Trả lại cho Lưu Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu OPPO A1K, màu đen; trả cho bị cáo L2 01 điện thoại di động hiệu APPLE, loại Iphone 7, màu đen, không sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn L1 và Võ Nhựt L2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 15/8/2023 tại khu vực số C, đường Đ, tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang các bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn L1, Võ Nhựt L2 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng tang vật gồm: 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, 01 mặt có vạch màu đỏ - xám, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 bật lửa; 01 bình có gắn nỏ thủy tinh và 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng được giám định là ma tuý, loại Methamphetamie, khối lượng 0,6142 gam. Quá trình điều tra thể hiện N rủ L2 và L1 hùn tiền để mua ma túy sử dụng cho những lần tiếp theo tại nhà N.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Trần Văn N đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (tội phạm rất nghiêm trọng) và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm, hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (tội phạm nghiêm trọng).
Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn L1 và Võ Nhựt L2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (tội phạm nghiêm trọng).
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng nhận thấy:
Bị cáo N là người khởi xướng, tổ chức cho bị cáo L2, L1 cùng nhau sử dụng ma túy tại nhà của bị cáo N, cụ thể như: gọi điện rủ bị cáo L2, L1 sử dụng ma túy, cung cấp lượng ma túy và dụng cụ trong quá trình sử dụng ma túy. Các bị cáo L1, L2 được bị cáo N kêu gọi hùn tiền mua ma túy để sử dụng chung; bản thân các bị cáo phải hiểu rõ, tác hại của ma túy, phải tìm cách khuyên ngăn và không giúp sức cho việc sử dụng ma túy. Các bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn L1 và Võ Nhựt L2 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; học lực thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Trước khi phạm tội, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về vai trò đồng phạm: Trong vụ án này, các bị cáo N, L2, L1 cùng thực hiện hành vi nên phát sinh vai trò đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thành phố C các tội phạm về ma tuý có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 của Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và bao gói ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 cái bình có gắn nỏ thủy tinh, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng, 01 bật lửa và các dụng cụ sử dụng ma túy.
- Trả lại cho Lưu Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu OPPO A1K, màu đen; trả cho bị cáo L2 01 điện thoại di động hiệu APPLE, loại Iphone 7, màu đen, không sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy sử dụng.
[8] Về các vấn đề khác: Người nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho Trần Văn N, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn N các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm điểm b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 55, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn N 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cả 02 tội buộc bị cáo Trần Văn N phải chấp hành là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 15/8/2023).
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L1 và Võ Nhựt L2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1, Võ Nhựt L2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 15/8/2023).
Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong vụ (số: 167/KL-KTHS(MT-GT) ngày 22 tháng 8 năm 2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Văn Â.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái bình có gắn nỏ thủy tinh và đoạn ống hút nhựa màu hồng, 01 cái bật lửa (dụng cụ sử dụng ma túy);
Trả cho bà Lưu Ngọc T 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, hiệu OPPO A1k, vỏ màu đen, số I: 863539042432735. Imei 2: 863539042432727 (đã qua sử dụng); trả cho bị cáo Võ Nhựt L2 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, hiệu APPLE loại Iphoen 7, vỏ màu đen, số Imei : 355829085363557 (đã qua sử dụng).
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Trần Văn N, Nguyễn Văn L1 và Võ Nhựt L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội tổ chức và tàng trữ trái phép chất ma túy
