Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22/8/2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Chí Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Vững.
  2. Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 18/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 215/2024/QÐST-DS, ngày 07/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị N, sinh năm: 1994

Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1999; Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Trần Văn Chí N2, sinh năm: 1994

Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị N1 có mặt tại phiên tòa, anh N2 vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Thị N1 là nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 02/5/2024 và đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt chị Võ Thị N trình bày: Chị và chồng chị do quen biết nhau rồi đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn số 34, cấp ngày 23/7/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn hay có lời qua tiếng lại, làm cho không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Ngoài việc bất đồng quan điểm sống thì anh N2 thường xuyên ăn chơi nhậu nhẹt, cờ bạc không tập trung lo cho gia đình và con cái. Chị N và anh N2 đã sống ly thân nhau khoảng 05 năm nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn Chí N2.

Chị Võ Thị N có chị Nguyễn Thị N1 đại diện theo ủy quyền về con chung, về tài sản chung và nợ chung trình bày:

- Về con chung: Có một con chung tên Trần Chí V, sinh ngày 05/10/2018. Hiện con chung đang sống với chị Võ Thị N. Khi ly hôn chị Võ Thị N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh N2 cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn Chí N2 vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, nuôi con.Về thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Bên cạnh đó, bị đơn anh Trần Văn Chí N2 hiện đang cư trú tại Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị N và anh N2 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Lẽ ra, hai bên phải biết yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, giữ gìn hạnh phúc gia đình, nhưng trái lại anh chị không tôn trọng tình cảm đã có, thường xuyên để mâu thuẫn xảy ra dẫn đến cãi vã, làm cho không khí trong gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Quá trình mâu thuẫn kéo dài và ly thân nhau khoảng 05 năm nay nhưng anh chị không có giải pháp tích cực để hạn chế mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm, điều đó chứng minh đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Và anh Chị đã ly thân nhau khoảng thời gian là 05 năm. Nay chị N không còn tình cảm nữa nên chị N cương quyết xin ly hôn với anh N2.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Trần Văn Chí N2 vắng mặt không có lý do và trong suốt thời gian Tòa án gửi tất cả các văn bản tố tụng cho anh N2, anh N2 đã nhận được thông báo nhưng cũng không có biện pháp, động thái tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N. Điều này thể hiện tinh thần thiếu trách nhiệm của anh N2 đối với hôn nhân của mình, anh N2 không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng, vì anh N2 không đến tham dự các phiên họp, hòa giải và cũng không có văn bản ý kiến trình bày gửi đến Tòa án để biết xem anh có yêu cầu gì cũng như vấn đề anh tha thiết muốn hòa giải đoàn tụ hay như thế nào cho cuộc hôn nhân của mình. Từ đó nhận thấy việc mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã không còn hàn gắn được, nguyên nhân chính chị N yêu cầu ly hôn với anh là vợ chồng mâu thuẫn, anh N2 không lo làm ăn, chơi bời, cờ bạc, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, nghiêm trọng hơn nữa chị N cũng khẳng định đời sống chung của hai vợ chồng không được hạnh phúc đã khá dài đã ly thân khoảng 5 năm nay, chị N về nhà mẹ ruột ở từ đó đến nay.

Xét thấy, vì các nguyên nhân mâu thuẫn nêu trên nên yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị N có căn cứ nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị N.

[3] Về con chung: Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị N1 đại diện theo ủy quyền của chị Võ Thị N trình bày: Vợ chồng có một con chung tên Trần Chí V, sinh ngày 05/10/2018. Hiện con chung đang sống với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Xét thấy, đối với con chung tên Trần Chí V, sinh ngày 05/10/2018 hiện đang sống với chị N. Chị N cũng đủ điều kiện kinh tế để tiếp tục nuôi dưỡng bé Trần Chí V. Hơn nữa bé Trần Chí V đã sống chung với chị từ lúc nhỏ, và bé tuổi còn nhỏ nên cần sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt từ mẹ hơn, hiện tại bé cũng đang có cuộc sống rất tốt. Đồng thời bằng tình yêu thương của người mẹ chị N tha thiết có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Do đó tiếp tục giao bé Trần Chí V, sinh ngày 05/10/2018 cho chị Võ Thị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp..

Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[6] Về án phí: Chị N phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Anh N2 không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị N, anh N2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 127, Điều 128, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Võ Thị N.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị N được ly hôn với anh Trần Văn Chí N2.
    • - Về quan hệ nuôi con: Chị Võ Thị N được tiếp tục nuôi dưỡng Trần Chí V, sinh ngày 05/10/2018. Hiện con chung đang sống với chị N. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Do đó anh N2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Võ Thị N có quyền, nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung. Anh Trần Văn Chí N2 có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh Trần Văn Chí N2 thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp anh Trần Văn C Ngàn lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Võ Thị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Trần Văn C Ngàn.

Vì lợi ích của người con chung, khi có căn cứ thì chị N, anh N2 hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  • - Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
  1. Về án phí: Chị Võ Thị N phải chịu 300.000 tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai thu số 0005731 ngày 13/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị N đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Anh Trần Văn Chí N2 không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Chị N, anh N2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND, VKSND Tỉnh;

- VKSND cùng cấp;

- Chi cục THADS Huyện;

- Cơ quan đã thực hiện đăng ký kết hôn;

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án, (Nhất).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Huỳnh Chí Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger