|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2023/HS-ST Ngày: 22-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và bà Đào Thị Ngâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hữu – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử ngày 17/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/HSST-QĐ ngày 28/7/2023, đối với bị cáo:
Lê Thái H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 07/10/1985 tại Phú Yên; Nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện P, Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê T (chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1959; có vợ đã ly hôn và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại:
- Ông Đinh Nguyễn M, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: Tổ G, khu phố N, Phường I, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu G, sinh năm: 1977; Nơi cư trú: Khu phố B N, Phường H, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Tường V, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: thôn L, xã B, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Đinh Thị Lệ T1, sinh năm: 1966 và ông Lê Văn N, sinh năm: 1967;
Nơi cư trú: 0 T, Phường F, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Phù Thị Bích T2, sinh năm: 1983; Nơi cư trú: thôn S, xã S, huyện T, Phú Yên. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Thị Kim C, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: E L, Phường B, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Quốc L (Nguyễn Văn L1), sinh năm: 1964; Nơi cư trú: thôn L, xã B, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.
- Ông Phan Hồng N1, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện P, Phú Yên. Vắng mặt.
- Ông Đặng Kim H2, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: thôn L, xã B, thành phô T, Phú Yên. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình C1, sinh năm: 1984; Nơi cư trú: thôn P, xã H, thị xã Đ, Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 15/9/2022, Lê Thái H đi đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P thuộc khu phố N, Phường I, TP T để lấy trộm xe mô tô bán lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân. H thấy xe 78C1 - 202.11 trị giá 6.000.000 đồng của anh Đinh Nguyễn M, trú xã X, huyện Đ đang dựng phía ngoài nhà xe bệnh viện, nên H lén lút dắt xe 78C1 – 202.11 đi đến cổng bệnh viện, thì bị anh M cùng mọi người bắt giữ giao cho Công an P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua điều tra xác định, H còn thực hiện 04 vụ trộm xe mô tô khác, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 28/8/2022, H chuẩn bị một chìa khóa xe mô tô rồi đi bộ đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P thuộc Phường I, thành phố T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Angel, biển số 78F2-7678 trị giá 1.950.000 đồng của chị Nguyễn Tường V, trú thôn P, xã X, huyện Đ (xe chị V mượn của ông Nguyễn Quốc L) không có người trông coi, H lén lút dùng chìa khóa mở khoá xe và lấy trộm chiếc xe 78F2-7678. H khai đã đem chiếc xe này đến thôn P, xã H, huyện P bán cho một người tên T3 (không rõ lai lịch, địa chỉ) lấy 700.000 đồng tiêu xài hết. Chiếc xe của chị V đến nay chưa thu hồi được.
Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/9/2022, H và người tên T4 (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P thuộc Phường I, thành phố T, thấy xe mô tô nhãn hiệu Magic, biển số 78F4-3095, có gắn chìa khóa, trị giá 1.000.000 đồng của chị Đinh Thị Lệ T1, trú Phường F, thành phố T không có người trông coi, H rủ T4 lấy trộm thì T4 đồng ý. T4 đi ra ngoài cổng, H lén lút lấy trộm chiếc xe 78F4-3095 rồi chở T4 đến Quán N2 thuộc thôn P, xã H, huyện P để nhậu. Do không có tiền trả nên H để xe 78F4-3095 tại quán.
Vụ thứ ba: Khoảng 16 giờ ngày 12/9/2022, H đi cùng một người tên T4 trên xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 78F5-2131 (xe do T4 lấy trộm tại thôn P, xã H, huyện P) đi trên đường Đ thuộc Phường I, thành phố T. T4 nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 78P1- 2668, trị giá 8.000.000 đồng của chị Phù Thị Bích T2, trú xã S, huyện T không có người trông coi nên T4 rủ H lấy trộm, H đồng ý; H ngồi trên xe 78P1- 2668 để T4 điều khiển xe 78F5-2131 dùng chân đẩy xe 78P1- 2668 đến gửi trước cổng Bệnh viện Đ.
Vụ thứ tư: Khoảng 10 giờ ngày 13/9/2022, H điều khiển xe 78P1- 2668 đã lấy trộm trước đó, chở T4 đến Quán C L thuộc Phường A, thành phố T để nhậu; cả hai nhậu hết 600.000 đồng nhưng không có tiền trả nên H và T4 để xe 78P1-2668 lại cho chủ quán giữ. Sau đó, H và T4 đến Bệnh viện Đ để trộm cắp xe mô tô. H và T4 nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Stream, biển số 78H7-1098, trị giá 1.900.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thu G, trú Phường H, thành phố T không có người trông coi nên H lén lút lấy trộm xe 78H7-1098, rồi chở T4 đến quán vỉa hè gần chợ T5 để nhậu (không xác định được vị trí quán nhậu). Do không có tiền trả nên H để xe 78H7-1098 lại cho chủ quán giữ. Chiếc xe của bà G đến nay chưa thu hồi được.
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thu G và Nguyễn Tường V chưa nhận lại được tài sản, yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo giá trị định giá tài sản. Bị hại Đinh Nguyễn M, Đinh Thị Lệ T1 và Phù Thị Bích T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSTH ngày 14/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Lê Thái H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phổ biến, giải thích các quy định pháp luật về việc được trợ giúp pháp lý nhưng bị cáo từ chối, không có yêu cầu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về dân sự: đề nghị áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự; buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thu G số tiền 1.900.000 đồng và bồi thường cho bị hại Nguyễn Tường V số tiền 1.950.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 28/8/2022 đến ngày 15/9/2022, trên địa bàn thành phố T, Lê Thái H liên tiếp có hành vi lén lút chiếm đoạt 05 chiếc xe môtô của người khác với tổng trị giá là 18.850.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện; lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, trong thời gian ngắn đã thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên, xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự thú, khai ra các hành vi phạm tội trước đó; được bị hại Nguyễn Thị Thu G xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm học tập, cải tạo tốt.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh Nguyễn M, Đinh Thị Lệ T1 và Phù Thị Bích T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.
Bị hại Nguyễn Thị Thu G và Nguyễn Tường V chưa nhận lại được tài sản, yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại theo giá trị định giá tài sản là có căn cứ nên chấp nhận; buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại G số tiền 1.900.000 đồng và bồi thường cho bị hại V số tiền 1.950.000 đồng.
Đối với số tiền nhậu bị cáo còn nợ của ông Phan Hồng N1 và ông Đặng Kim H2. Tại phiên tòa hôm nay, ông N1 và ông H2 vắng mặt không có ý kiến trình bày nên HĐXX không xem xét. Ông N1 và ông H2 được quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án dân sự khác theo quy định pháp luật.
[6] Đối với người tên T3, theo bị cáo H2 khai đã mua chiếc xe của Nguyễn Tường V, do không xác định được lai lịch nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm pháp lý. Đối với các chủ quán nhậu nơi H2 để xe lại, không biết rõ xe là tài sản do phạm tội mà có nên không chịu trách nhiệm hình sự.
[7] Đối với người tên T4 có hành vi trộm cắp xe mô tô 78F5-2131 tại xã H, huyện P và cùng Lê Thái H trộm cắp các xe mô tô 78F4-3095, 78P1-2668 và 78H7-1098 tại thành phố T do chưa xác định được lai lịch của T4 nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án hình sự ra để điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Thái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Thái H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự.
Bị cáo Lê Thái H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Thu G số tiền 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng) và bồi thường cho bà Nguyễn Tường V số tiền 1.950.000 đồng (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền trên thì còn phải chịu tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Thái H thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Thị Oanh Đào Thị Ngâm |
Trần Lê Mai |
Bản án số 84/2023/HS-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 84/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo bị VKSND truy tố về tội Trộm cắp tài sản
