Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 22/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khương Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Thùy Dương;
  2. Ông Bùi Tấn Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phương Huỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T1, sinh năm 1994, tại tỉnh Trà Vinh; nơi đăng thường trú: Ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2 (đã chết) và bà Lê Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2022/HSST; bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2024 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Chị Trần Thị H1, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Số A đường B, Khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người làm chứng: Bà Đỗ Thị T3; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Lê Văn T1 là nhân viên phụ bán bún tại địa chỉ số A, đường B, tổ D, khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương của gia đình chị Trần Thị H1, đến tháng 7 năm 2021 thì bị cáo T1 nghỉ làm.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 08/5/2022, bị cáo T1 đi bộ từ phòng trọ của T1 tại khu vực chợ B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến nhà chị H1 tại số A, đường B, tổ D, khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản sơ hở nhằm lấy trộm bán kiếm tiền tiêu xài. Khi đến nơi, T1 gặp bà Đỗ Thị T3 (là mẹ của chị H1) đang bán bún trước cửa nhà nên T1 hỏi bà T3 là chị H1 có ở nhà không để T1 mượn xe đi mua xăng do xe của T1 hết xăng nên đang để ngoài ngã tư gần đó. Lúc này, bà T3 trả lời với T1 là chị H1 đang nấu cơm ở sau nhà, T1 nghe vậy thì đi vào bên trong nhà và nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 29F4-9470 đang cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa nên T1 nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên. Tiếp đó, T1 nói lớn tiếng là “Chị H1 cho em mượn xe đi mua xăng” nhưng không nghe thấy ai trả lời rồi T1 quan sát thấy bà T3 không để ý và không thấy chị H1 nên T1 đi lại chỗ xe mô tô biển số 29F4-9470 rồi dắt xe ra phía trước cổng nhà, bật chìa khóa nổ máy và điều khiển xe chạy đến phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi bán xe trên cho một người nam (hiện không rõ họ tên và địa chỉ cư trú) với giá 1.500.000 đồng, sau đó T1 bắt xe ôm đi về phòng trọ và tiêu xài hết số tiền trên.

Đối với chị Trần Thị H1, khi nghe tiếng xe nổ máy, chị H1 đi lên phía trước nhà xem thì phát hiện T1 đã điều khiển xe của chị H1 đi mất. Đến chiều cùng ngày 08/5/2022, chị H1 không thấy T1 quay lại trả xe nên đến Công an phường C trình báo sự việc. Ngày 13/5/2023, Công an phường C chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương để thụ lý theo thẩm quyền.

Riêng Lê Văn T1, sau khi lấy trộm xe mô tô nêu trên của chị H1, đến ngày 25/8/2022, T1 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H bắt giữ. Ngày 22/12/2022, T1 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2022/HSST. Sau khi bản án có hiệu lực, T1 được đưa đến chấp hành án tại Trại giam C - Cục C1 - Bộ C2 tại tỉnh Bến Tre. Đến ngày 25/02/2024, T1 chấp hành xong bản án nêu trên và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Lệnh bắt bị can để tạm giam để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản của chị Trần Thị H1 như đã nêu ở trên.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 154/KL-HĐĐGTS ngày 02/6/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 29F4-9470 trị giá 9.000.000 đồng.

-Về các vấn đề khác của vụ án:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 29F4-9470 do bị cáo Lê Văn T1 đã bán cho người không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không thu hồi được. Chị H1 yêu cầu bị cáo T1 bồi thường cho chị H1 số tiền 9.000.000 đồng tương đương với trị giá xe mô tô T1 đã chiếm đoạt của chị H1.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện Kiểm sát:

Cáo trạng số 89/CT-VKSTDM ngày 08/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T1 mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 9.000.000 (chín triệu) đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại Trần Thị H1 trình bày: Về trách nhiệm dân sự, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại giá trị tài sản là xe mô tô bị mất trộm không thu hồi lại được với số tiền là 9.000.000 (chín triệu) đồng. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Văn T1 trình bày: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại H1 số tiền 9.000.000 (chín triệu) đồng theo như yêu cầu của bị hại. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T1 đã khai nhận:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/5/2022, tại nhà số A, đường B, tổ D, khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Văn T1 đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 29F4-9470 trị giá 9.000.000 (chín triệu) đồng của chị Trần Thị H1. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hậu quả là bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại một xe mô tô hiệu Honda Dream. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Căn cứ nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại chị Trần Thị H1 và bị cáo T1 thống nhất thỏa thuận bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 9.000.000 đồng là giá trị tài sản mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp của bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại, thỏa thuận nêu trên phù hợp quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được ghi nhận.

[8] Về vật chứng của vụ án: Không.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/02/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Buộc bị cáo Lê Văn T1 có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Trần Thị H1 số tiền 9.000.000 (chín triệu) đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  4. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Công an thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khương Minh Trí

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger