Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 84/2024/HSST

Ngày: 22/5/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Xuân Dệt - Cán bộ hưu trí

2. Bà Nguyễn Thị Phi Khanh - Hiệu trưởng trường

THCS Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lệ Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia

phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Tạ Hoàng S; Giới tính: Nam. Sinh năm 2001 tại Gia Lai.

Nơi thường trú: Tổ H, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Nơi ở trước khi bị bắt: Phòng số 06, dãy trọ số A đường T, Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số căn cước công dân: [...].

Cha: Tạ Văn Đ, sinh năm 1973. Hiện trú tại khu phố B, thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai. Mẹ: Hoàng Thị H, sinh năm 1979. Hiện trú tại Tổ H, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2007. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn Đ1; Giới tính: Nam. Sinh ngày 31/3/2005 tại Gia Lai.

Nơi thường trú: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Nơi ở trước khi bị bắt: Phòng số 06, dãy trọ số A đường T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số căn cước công dân: [...].

Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; Mẹ: Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1973. Hiện cha, mẹ bị cáo trú tại Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có 03 anh, chị ruột (lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2002). Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: tại Bản án số 110/2023/HS-ST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xét xử tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.

3. Dương Quang T1; Giới tính: Nam. Sinh ngày 13/6/2006 tại Gia Lai.

Nơi thường trú: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Nơi ở trước khi bị bắt: Phòng số 06, dãy trọ số A đường T, Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số căn cước công dân: [...]; Cha: Dương Văn Q, sinh năm 1974. Hiện trú tại tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1977. Hiện trú tại tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có 03 anh, chị ruột (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2004). Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Dương Quang T1: Ông Đinh Tuấn A - Luật sư thuộc văn phòng L1 - Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.

* Đại diện hợp pháp bị cáo Dương Quang T1: Ông Dương Văn Q, sinh năm: 1974; Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1977; địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Võ Văn M; sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn vắng mặt.

*Người chứng kiến:

- Ông Ngô Đình T2; sinh năm: 1970; Địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

2

*Người làm chứng:

Anh Lê Ngô Vĩnh P; sinh năm: 1993; Địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tạ Hoàng S, Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 có mối quan hệ bạn bè và cùng ở tại phòng số 06, dãy trọ số A đường T, Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Thông qua mối quan hệ xã hội và qua ứng dụng Telegram, Tạ Hoàng S biết một đối tượng tên M1 (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy. M1 đã sử dụng ứng dụng Telegram liên hệ với S đặt vấn đề nếu bán hết số ma túy Meo giao thì sẽ trả công 1.500.000đồng, S đồng ý. Vào khoảng 17 giờ ngày 12/01/2024, M1 sử dụng ứng dụng Telegram liên hệ với S nói S đến khu vực đường C, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai, để lấy ma túy về phân chia rồi đem bán nên S đã đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch và biển số xe) chở đến điểm hẹn. Đến nơi, S gọi điện thoại cho M1 và được M1 chỉ dẫn vị trí cất giấu ma túy; sau đó, S đã tìm thấy 01 túi màu đen tại vị trí ven đường C, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; kiểm tra bên trong có 01 bì chứa ma túy loại Ketamine, 01 bì nilon chứa 10 viên ma túy loại MDMA, 01 cân tiểu ly và 1.500.000 đồng tiền Ngân hàng N1 (là tiền công bán ma túy). Sau đó, S cất giấu toàn bộ số ma túy, cân tiểu ly và tiền trong người, rồi đón xe ôm của một người đàn ông khác (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch và biển số xe) chở về phòng số 06, dãy trọ số A đường T, Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Tại phòng trọ, S đã sử dụng cân tiểu ly phân chia bì chứa ma túy loại Ketamine thành 11 gói nilon rồi cất giấu cùng bì nilon chứa 10 viên ma túy loại MDMA vào trong 01 hộp nhựa màu xám đặt tại gác lỡ phòng trọ với mục đích chờ có người nào hỏi mua thì bán; còn chiếc cân tiểu ly, sau khi phân chia ma túy xong, S làm rơi vỡ nên đã vứt vào sọt rác không rõ ở đâu.

Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 ở cùng phòng trọ với Tạ Hoàng S, biết S có ma túy để bán nên đặt đã nói S cho Đ1 và T1 đi bán ma túy để kiếm tiền công, thì S đồng ý. S dự định bán hết số ma túy Meo giao thì sẽ trả công cho Đ1 500.000 đồng và trả công cho T1 500.000 đồng. Vào lúc 16 giờ 57 phút và 16 giờ 58 phút ngày 13/01/2024, S đã sử dụng tài khoản của S tại ngân hàng T5 số [...] chuyển khoản trước cho T1 150.000 đồng tiền công bán ma túy vào tài khoản số 0867015406 của T1 tại Ngân hàng M2 và chuyển khoản trước cho Đ1 150.000 đồng tiền công bán ma túy vào tài khoản số 0377106751 của Đ1 tại Ngân hàng M2.

Vào lúc 18 giờ ngày 13/01/2024, M1 sử dụng ứng dụng Telegram liên hệ nói S đi bán ma túy cho đối tượng Lê Ngô Vĩnh P (sinh năm 1993; trú tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) tại khu vực trước quán K, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, nên S đã đưa cho Đ1 05 gói nilon chứa ma túy loại Ketamine và 01

3

viên ma túy loại MDMA đem đi bán cho P tại khu vực trước quán K, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đ1 nhận ma túy rồi đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch và biển số xe) chở đến điểm hẹn và đã bán số ma túy trên cho P; số tiền mua ma túy P trả trực tiếp cho M1.

Vào lúc 21 giờ ngày 14/01/2024, M1 tiếp tục sử dụng ứng dụng Telegram liên hệ nói S đi bán ma túy cho đối tượng tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực cầu S, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, nên S đã giao cho T1 01 gói nilon chứa ma túy loại Ketamine và 01 viên ma túy loại MDMA đem đi bán cho B tại khu vực cầu S, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. T1 nhận ma túy rồi đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch và biển số xe) chở đến điểm hẹn và đã bán cho B; số tiền mua ma túy Bi trả trực tiếp cho M1.

Số ma túy còn lại, S tiếp tục cất giấu trên gác lỡ tại phòng số 06, dãy trọ số A đường T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, với mục đích chờ có người nào hỏi mua thì sẽ bán. Vào lúc 21 giờ ngày 15/01/2024, khi Tạ Hoàng S, Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 đang ở tại phòng số 06, dãy trọ số A đường T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng, gồm: 01 hộp nhựa màu xám bên trong có 05 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể (được niêm phong theo quy định, ghi “1”) và 01 bì nilon chứa 08 viên nén màu xám (được niêm phong theo quy định, ghi “2”); 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số [...] 11487577551); 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984 04800 00536 56345) và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984 04800 03821 19146).

Ngay sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm, xác định các bị can Tạ Hoàng S, Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 đều âm tính với các chất ma túy.

Quá trình điều tra, xác định: Việc Tạ Hoàng S liên hệ với M1, lấy ma túy đem về phòng số 06, dãy trọ số A đường T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai rồi tiến hành phân chia thì Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 không biết; chỉ khi nào đối tượng M1 nói đi bán ma túy thì S lấy ma túy cho Đ1, T1 đi bán. Số ma túy còn lại, S cất giấu tại phòng trọ và bị Cơ quan Công an thu giữ thì T1 và Đ1 đều không biết.

Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 145/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của phòng K1 - Công an tỉnh G, kết luận: “Toàn bộ chất màu trắng dạng tinh thể trong 05 (năm) gói nilon trong bì công văn ghi “1” gửi giám định đều là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 5,3310 gam. 08 (tám) viên nén màu

4

xám trong 01 (một) gói nilon trong trong bì công văn ghi “2” gửi giám định đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 3,5138 gam”.

Đối với số tiền 1.500.000 đồng mà S đã nhận được của đối tượng M1; số tiền 150.000 đồng mà T1 đã nhận được của S và số tiền 150.000 đồng mà Đ1 đã nhận được của S, các bị cáo: Sang, T1, Đ1 đều đã tiêu xài cá nhân hết.

Đối với cân tiểu ly, sau khi phân chia đã bị S làm rơi vỡ rồi vứt vào sọt rác không nhớ được vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với 01 hộp nhựa màu xám là của S dùng cất giấu ma túy; chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng kèm sim số là của S và S đã sử dụng để liên lạc mua bán ma túy và chuyển khoản tiền công bán ma túy qua ứng dụng T5 cho T1 và Đ1; chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu đen kèm sim số là của Đ1 và Đ1 đã sử dụng liên lạc để bán ma túy; chiếc điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh kèm sim số là của T1 và T1 đã sử dụng liên lạc để bán ma túy.

Đối với đối tượng tên M1 là người mà bị cáo S khai đã giao ma túy cho S để bán: Do S không biết nhân thân, lai lịch của M1; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã đã tiến hành mở danh bạ điện thoại, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn và ứng dụng Telegram trong chiếc điện thoại đã thu giữ của S; đồng thời, tiến hành xác minh tại phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng chưa xác định được thông tin của đối tượng tên M1. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Đối với Lê Ngô Vĩnh P (sinh năm 1993; trú tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) là người đã mua ma túy của bị can S và Đ1 vào ngày 13/01/2024 tại khu vực trước quán K, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai: Do sau khi mua ma túy, P đã sử dụng hết nên không có căn cứ xử lý P về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt 1.500.000 đồng) đối với P về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.

Đối với đối tượng tên B là người đã mua ma túy của S và T1 vào ngày 14/01/2024 tại khu vực Cầu S, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai: Do S và T1 đều không biết nhân thân, lai lịch của B; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành xác minh tại khu vực Cầu S, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng chưa xác định được thông tin của đối tượng tên B. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Đối với ông Võ Văn M (sinh năm 1979; trú tại Tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; là chủ dãy trọ số A đường T, Tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh

5

Gia Lai): Việc bị cáo Tạ Hoàng S tàng trữ trái phép chất ma túy để bán tại nhà trọ thì ông M không biết nên không có căn cứ để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số: 91/CT - VKS ngày 04/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Tạ Hoàng S về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Dương Quang T1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Tạ Hoàng S, Nguyễn Văn Đ1, Dương Quang T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; đề nghị:

Về hình phạt:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 58; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Tạ Hoàng S mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 58; Điều 56; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Tổng hợp hình phạt tại bản án số 110/2023/HS-ST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Dương Quang T1 mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng 15 ngày tù.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 02 bì công văn ghi dán kín ghi số 145/PC09 ngày 24/01/2024 có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh G ( có các chữ ký ghi họ và tên của Trần Đoàn T3, Nguyễn Minh T4, Hoàng Ngọc B1), là ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng kèm sim số của bị cáo Tạ Hoàng S; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen kèm sim số của bị cáo Nguyễn Văn Đ1 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh kèm sim số của bị cáo Dương Quang T1, các bị cáo sử dụng điện thoại để phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 hộp nhựa màu xám là phương tiện bị cáo S dùng để cất giấu ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

Về biện pháp tư pháp khác:

6

  • - Buộc bị cáo Tạ Hoàng S phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.300.000đồng để sung công quỹ Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 150.000đồng để sung công quỹ Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Dương Quang T1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 150.000đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Dương Quang T1 trình bày quan điểm bào chữa: hành vi phạm tội của bị cáo T1 trong vụ án này đã rõ, Luật sư bào chữa đồng ý với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Dương Quang T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: đã thành khẩn khai báo; phạm tội khi còn ở độ tuổi chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn thấp; số tiền 150.000đồng mà bị cáo thu lợi bất chính là không lớn; bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội do bị bị cáo S xúi giục. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án khởi điểm của mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo sớm có cơ hội hoà nhập cộng đồng và sửa chữa lỗi lầm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận có hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” như cáo trạng đã nêu, nhận thấy hành vi đó của mình là vi phạm pháp luật; các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội như sau:

Sau khi đã thỏa thuận với đối tượng M1 (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) về việc bán ma túy cho M1 rồi nhận tiền công. Vào ngày 12/01/2024, tại khu

7

vực đường C, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai, bị cáo Tạ Hoàng S đã nhận 01 túi màu đen bên trong có 01 bì chứa ma túy loại Ketamine, 01 bì nilon chứa 10 viên ma túy loại MDMA, 01 cân tiểu ly và 1.500.000 đồng tiền Ngân hàng N1 (là tiền công bán ma túy), rồi mang về phòng trọ tại phòng số 06, dãy trọ số A đường T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, phân chia bì chứa ma túy loại Ketamine thành 11 gói nilon và cất giấu cùng bì chứa 10 viên ma túy loại MDMA trên gác lỡ phòng trọ, với mục đích để bán.

Các bị cáo Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 ở cùng phòng trọ với bị cáo S và biết S có ma túy bán nên đã đặt vấn đề bán ma túy cho S để kiếm tiền công, S đồng ý và đã chuyển trước cho T1, Đ1 mỗi người 150.000 đồng là tiền công bán ma túy. Vào ngày 13/01/2024, S đã đưa cho Đ1 05 gói nilon chứa ma túy loại Ketamine và 01 viên ma túy loại MDMA để bán cho Lê Ngô Vĩnh P tại khu vực trước quán K, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vào ngày 14/01/2024, S đã đưa cho T1 01 gói nilon chứa ma túy loại Ketamine và 01 viên ma túy loại MDMA để bán cho đối tượng tên B (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) tại khu vực cầu S, đường P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Số ma túy còn lại, S cất giấu với mục đích để bán, Đ1 và T1 không biết về số ma túy này. Vào lúc 21 giờ ngày 15/01/2024, khi Tạ Hoàng S, Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 đang ở tại phòng số 06, dãy trọ số A đường T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường H bắt quả tang cùng vật chứng.

Qua giám định, xác định: các chất ma túy mà Tạ Hoàng S đã tàng trữ nhằm mục đích để bán, gồm: 5,3310 gam ma túy loại Ketamine và 3,5138 gam ma túy loại MDMA.

[3] Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, bị cáo Tạ Hoàng S là người khởi xướng rồi cùng các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Dương Quang T1 thực hành tội phạm. Bị cáo Tạ Hoàng S đã 02 lần đưa ma túy cho các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Dương Quang T1 đi bán, cụ thể: 01 lần giao ma túy cho Nguyễn Văn Đ1 để bán cho Lê Ngô Vĩnh P và 01 lần giao ma túy cho bị cáo Dương Quang T1 để bán cho đối tượng tên B. Do đó, hành vi của bị cáo Tạ Hoàng S đã phạm vào tình tiết định khung “Phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Hành vi tàng trữ 3,5138 gam ma túy loại MDMA và 5,3310 gam ma túy loại Ketamine với mục đích để bán do bị cáo Tạ Hoàng S thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hai chất MDMA và Ketamine

8

là các chất không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tống khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy loại MDMA và loại Ketamine, mà bị cáo Tạ Hoàng S tàng trữ để bán, là dưới 100%, nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Tạ Hoàng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Dương Quang T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Đối với đối tượng tên M1 là người mà bị cáo S khai đã giao ma túy cho S để bán. Hiện nay, do chưa xác định được thông tin của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

- Đối với Lê Ngô Vĩnh P là người đã mua ma túy của bị cáo S và Đình D sau khi mua ma túy, P đã sử dụng hết nên không có căn cứ xử lý P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

- Đối với đối tượng tên B là người đã mua ma túy của S và T1 vào ngày 14/01/2024. Hiện nay, do chưa xác định được thông tin của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

- Đối với ông Võ Văn M là chủ dãy trọ số A đường T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, việc bị cáo Tạ Hoàng S tàng trữ trái phép chất ma túy để bán tại nhà trọ thì ông M không biết nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xử lý là có căn cứ.

[7] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo Tạ Hoàng S, Nguyễn Văn Đ1 và Dương Quang T1 như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 có nhân thân xấu, đã bị xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách. Do vậy, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp

9

hình phạt của bản án này theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo là những người có đủ năng lực để nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, việc các bị cáo nhận ma tuý từ người khác và mang đi bán cho các đối tượng nghiện ma tuý nhằm thu lợi bất chính là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Nhưng chỉ vì hám lợi mà bị cáo đã bất chấp hậu quả, xem thường pháp luật. Do vậy, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như vai trò đồng phạm của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo S, Đ1, T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ là đã thành khẩn khai báo. Riêng bị cáo T1 khi phạm tội dưới 18 tuổi nên được áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội.

[9] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Tạ Hoàng S có hành vi rủ rê Dương Quang T1 là người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”. Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên bị cáo Đ1 có 01 tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”.

[10] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 02 bì công văn ghi dán kín ghi số 145/PC09 ngày 24/01/2024 có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh G, là ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng kèm sim số của bị cáo Tạ Hoàng S; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen kèm sim số của bị cáo Nguyễn Văn Đ1 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh kèm sim số của bị cáo Dương Quang T1, các bị cáo sử dụng điện thoại để phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 hộp nhựa màu xám là phương tiện bị cáo S dùng để cất giấu ma tuý xét không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với cân tiểu ly, sau khi phân chia ma tuý đã bị S làm rơi vỡ rồi vứt vào sọt rác không nhớ được vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

[11] Về biện pháp tư pháp khác:

  • - Buộc bị cáo Tạ Hoàng S phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.300.000đồng để sung công quỹ Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 150.000đồng để sung công quỹ Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Dương Quang T1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 150.000đồng để sung công quỹ Nhà nước.

[12] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

10

[13] Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tạ Hoàng S, Nguyễn Văn Đ1, Dương Quang T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 58; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Xử phạt bị cáo Tạ Hoàng S 08 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 58; Điều 56; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 03 năm tù;

Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù tại bản án số 110/2023/HS-ST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là: 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Xử phạt bị cáo Dương Quang T1 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.

Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  • - Tịch thu tiêu huỷ:
    • + 02 bì công văn ghi dán kín ghi số 145/PC09 ngày 24/01/2024 có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh G ( có các chữ ký ghi họ và tên của Trần Đoàn T3, Nguyễn Minh T4, Hoàng Ngọc B1).
    • + 01 hộp nhựa màu xám của bị cáo Tạ Hoàng S.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
    • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng kèm sim số của bị cáo Tạ Hoàng S (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong).
    • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen kèm sim số của bị cáo Nguyễn Văn Đ1 (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong).
    • + 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh kèm sim số của bị cáo Dương Quang T1 (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình

11

trạng bên trong).

( Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku).

Về biện pháp tư pháp khác: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;

  • - Buộc bị cáo Tạ Hoàng S phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.300.000đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Dương Quang T1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo Tạ Hoàng S, Nguyễn Văn Đ1, Dương Quang T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku;
  • - Công an thành phố Pleiku;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Thị Thanh Hà

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HSST ngày 22/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 84/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Hoàng Sang và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger