|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2023/HSPT Ngày: 21/8/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: |
|
|
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Bùi Thái Hùng. |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Trần Minh Bắc. Ông Phạm Trung Dũng. |
|
-Thư ký phiên tòa: |
Bà Trần Thu Hồng - Thư ký Tòa án. |
|
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: |
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên. |
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 111/2023/HSPT ngày 11/7/2023 đối với bị cáo Nguyễn Anh Q và đồng phạm do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2023/HSST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Các bị cáo bị kháng nghị:
- Nguyễn Anh Q, sinh năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: E, ấp C, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; vợ, con: không;
Tiền án: tại Bản án số 140/2017/HSST ngày 22/9/2017, TAND huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Anh Q 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 11/10/2018. Buộc bị cáo phải nộp sung công quỹ nhà nước số tiền 4.000.000 đồng thu nhập bất chính, Q đã thi hành 200.000 đồng tiền án phí và 1.010.000 đồng tiền thu nhập bất chính, còn lại số tiền 2.990.000 đồng thu nhập bất chính Quốc chưa nộp;
Tiền sự: tại Quyết định số 75/QĐ-TA ngày 14/3/2019, TAND huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Anh Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 11/11/2020.
Nhân thân: tại Bản án số 298/2014/HSST ngày 28/11/2014, TAND quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Anh Q 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; chấp hành xong vào ngày 04/6/2015.
Bị bắt tạm giam ngày 04/8/2022 (có mặt tại phiên toà).
- Lê Thị Diễm P, sinh năm 1991 tại Hậu Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1963; chồng: Nguyễn Trần Huỳnh Quốc D, sinh năm 1992 (hiện đang chấp hành án tại Trại giam T10), con: 04 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên toà)
- Lê Hải Đ, sinh năm 2002 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: khu phố L, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trung T1, sinh năm 1982 và bà Trần Thị Kim A, sinh năm 1981; vợ, con: không;
Tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/8/2022 (có mặt tại phiên toà).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Dư Thanh H, các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 05/2021, Nguyễn Anh Q và Lê Thị Diễm P chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà thuê thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đến tháng 07/2022, do không có việc làm ổn định nên Q cùng bàn bạc với P rủ nhau tìm kiếm tài sản sơ hở của người đi đường để chiếm đoạt tài sản tiêu xài cá nhân. Trong khoảng thời gian từ ngày 16/7/2022 đến ngày 04/8/2022, P, Q đã thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đ và L, cụ thể như sau:
* Trên địa bàn huyện Đ:
Vụ thứ nhất: vào khoảng 09 giờ gày 16/7/2022, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, biển số 95E1-504.10 chở P ngồi phía sau đi từ nhà trọ của P thuê ở tại thị trấn P, huyện Đ rồi đi trên các tuyến đường thị trấn P, huyện Đ. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến khu vực sân bóng đá thuộc khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, Q và P phát hiện chị Nguyễn Thị Mộng H1, sinh năm 1980; nơi cư trú: khu phố P, thị trấn P, huyện Đ điều khiển xe mô tô chở theo con gái Phan Kim Thanh V, sinh năm 2003 ngồi giữa và Võ Lê Văn Anh B, sinh năm 2003 (là cháu của chị H1) ngồi sau chạy phía trước cùng chiều với Q và P. Lúc này, cháu V đang cầm chiếc điện thoại trên tay. Thấy vậy, Q dừng xe lại nói P biết có tài sản và kêu P điều khiển xe để Q ngồi sau giật chiếc điện thoại trên. Sau đó, P điều khiển xe từ phía sau vượt lên áp sát bên phải xe máy của chị H1, còn Q dùng tay trái nhanh chóng giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng của V đang cầm trên tay phải nhưng khi Q vừa chạm vào điện thoại thì V phát hiện và cầm chặt điện thoại lại cất vào trong người nên Q không giật được, P liền chở Q tăng ga bỏ chạy về lại nhà trọ của P. Sau đó, Phan Kim Thanh N đến cơ quan Công an trình báo.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu trắng đã qua sử dụng (tài sản chưa bị chiếm đoạt).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Đ kết luận: 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max, màu trắng, đã qua sử dụng, có giá trị: 16.000.000₫ (mười sáu triệu đồng).
Vụ thứ hai: vào khoảng 11 giờ ngày 28/7/2022, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, biển số 95E1-504.10 chở P, Lê Hải Đ (là cháu ruột của P) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu vàng, biển số 72K1-474.26 chở Dư Thanh H (là bạn gái của Đ) đến khu vực chùa T11 (thường gọi là chùa K1) thuộc khu phố H, thị trấn P, huyện Đ để chơi. Cả nhóm gửi xe tại bãi giữ xe do bà Tống Thị O, sinh năm 1964; nơi cư trú: khu phố P, thị trấn P, huyện Đ trông coi rồi lên chùa T12.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Q và P đến bãi giữ xe lấy xe ra về. Lúc này, P nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Luvias, biển số 83P1-028.58 của chị Trương Xú K, sinh năm 1984; địa chỉ: khóm S, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cũng đến tham quan chùa đang cắm sẵn chìa khóa trên xe và gửi xe tại bãi xe. Lúc này, P nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên, P chỉ tay về phía chiếc xe và nói cho Q biết, Q hiểu ý của P muốn trộm chiếc xe trên nên Q kêu P chạy xe mô tô biển số 95E1-504.10, Đ chạy xe mô tô 72K1-474.26 chở H về trước. Sau đó, Q đi lại gần xe của chị K quan sát xung quanh thấy không có ai, Q ngồi lên xe của chị K bật chìa khóa xe đề máy nổ rồi tăng ga chạy theo xe P về lại nhà trọ của P cất giấu xe mô tô vừa trộm được. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, bà Trương Xú K ra cơ quan Công an trình báo sự việc.
Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 xe máy hiệu Yamaha, loại xe Luvias, màu xanh - bạc - vàng, biển số 83P1-028.58 (đã qua sử dụng). Ngày 24/8/2022, cơ quan CSĐT công an huyện Đ đã trao trả lại chiếc xe trên cho chị Trương Xú K là chủ sở hữu.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Đ kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Luvias, màu xanh - bạc - vàng, biển số 83P1-028.58 (đã qua sử dụng), số máy 44S1021317, số khung S10A021314 có giá trị 9.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: vào khoảng 08 giờ ngày 03/8/2022, Q tiếp tục điều khiển xe mô tô loại xe Honda, nhãn hiệu Winner (Q tháo biển số 95E1-504.10 ra), gắn biển số 72H1-257.67 chở P đi từ nhà trọ của P tại thị trấn P, huyện Đ rồi chạy lên trên các tuyến đường tại thị trấn P, huyện Đ với mục đích tìm tài sản để chiếm đoạt.
Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến tuyến đường ĐT44A thuộc khu phố H, thị trấn P về hướng xã P, P và Q phát hiện chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1991; nơi cư trú: khu E tầng, phường G, thành phố V điều khiển xe mô tô biển số 72H1-192.73 chở theo con gái Nguyễn Thanh Thiện M, sinh ngày 03/6/2020 ngồi trước đi từ hướng thị trấn P về xã P, huyện Đ. Lúc này, P và Q quan sát xung quanh thấy đường vắng không có người qua lại, Q dừng xe lại để P cầm lái chở Q ngồi sau. P điều khiển xe mô tô từ phía sau vượt lên áp sát bên trái xe mô tô của chị H2 để cho Q thuận lợi ngồi sau dùng tay phải nhanh chóng giật chiếc túi xách hiệu Juno của chị H2 đang để ở giữa phía trước bụng chị và sau lưng con gái. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, P chở Q chạy về nhà trọ của P. Tại đây, P và Q mở túi vừa giật được ra kiểm tra phát hiện bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh và số tiền 3.100.000đồng. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, chị Nguyễn Thanh H3 ra cơ quan Công an trình báo sự việc.
Sau đó, Q gọi điện thoại cho Lê Hải Đ (là cháu ruột của P) để nhờ Đ bán giúp chiếc điện thoại mới chiếm đoạt được. Lúc này, Đ đang ở trọ cùng H tại khu phố H, thị trấn P, huyện Đ nên Đ rủ H đi cùng, H đồng ý. Khi đến nhà trọ của P, Q nói cho Đ biết “mới giật được cái túi xách có cái điện thoại, con biết chỗ nào bán được thì bán dùm”. Lúc này, H và Đ nghe, biết được tài sản trên do Q và P phạm tội mà có và đồng ý giúp Q tiêu thụ, Đ nhắn tin qua ứng dụng messenger cho một người đàn ông tên N (không rõ nhân thân lai lịch) để thỏa thuận bán chiếc điện thoại này. Nam T2 hẹn Đ đến một đoạn đường vắng tại khu vực thị xã P để gặp mua chiếc điện thoại này. Sau khi bàn bạc, Đ điều khiển xe mô tô biển số 72K1-474.26 chở H, Q điều khiển xe mô tô biển số 95E1-504.10 chở P đến một đoạn đường vắng (không nhớ rõ địa điểm) tại thị xã P gặp N và bán chiếc điện thoại với số tiền 8.000.000 đồng. Lấy tiền xong, P cho Đ và H tiền bán được chiếc điện thoại trên số tiền 1.000.000 đồng, số tiền còn lại P đi đến tiệm V1 tại khu phố H, thị trấn L, huyện L mua 01 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 chiếc lắc vàng 18K với số tiền 6.500.000đồng. Sau đó, cả nhóm về lại thị trấn P, huyện Đ.
Vật chứng của vụ án:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh; 01 túi xách nhãn hiệu Juno, màu hồng và số tiền 3.100.000đồng. (tất cả hiện không thu hồi được).
- Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐ ĐGTS ngày 29/8/2022 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Đ kết luận:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh có giá trị 18.000.000 đồng.
- 01 túi xách nhãn hiệu Juno, màu hồng có giá trị 250.000đồng.
Tổng giá trị tài sản đã định là 18.250.000đồng.
* Trên địa bàn huyện L:
Vụ thứ tư: vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 23/7/2022, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, màu đỏ, gắn biển số 72H1-257.67 chở P đi trên đường Cm Nguyễn Tất T3 thuộc thị trấn L, huyện L. Khi đến đoạn đường thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, Q phát hiện chị Nguyễn Thị Kim H4, sinh năm 1988; Nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện L đang điều khiển xe mô tô để chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh bên túi quần trải hở ra ngoài. Thấy vậy, Q điều khiển xe áp sát bên trái xe của chị H4 rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên. Sau khi giật xong, Q chở P bỏ chạy về thị trấn P, huyện Đ và đến tiệm điện thoại Thành Danh do anh Thái T4, sinh năm 1992 làm chủ tại thị trấn P, huyện Đ bán được 7.000.000 đồng. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, chị Nguyễn Thị Kim H4 đến Cơ quan công an trình báo sự việc.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, dung lượng 128Gb (không thu hồi được).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 05/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện L kết luận:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, dung lượng 128Gb, đã qua sử dụng có giá trị 18.640.000đồng.
Vụ thứ năm: vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 27/7/2022, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, màu đỏ, gắn biển số 72H1-257.67 chở P. Lê Hải Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu vàng, biển số 72K1-474.26 chở Dư Thanh H đi chơi từ thành phố B về thị trấn P theo hướng tỉnh lộ 44A. Lúc này, Q chở P chạy phía trước, Đ chở H chạy phía sau được một lúc thì đi lạc đường nên cả hai chở nhau về thị trấn P, huyện Đ. Riêng Q và P chạy đến khu vực thuộc ấp H, xã P, huyện L, Q phát hiện chị Vương Thị T5, sinh năm 1994; Nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã P, huyện L đang điều khiển xe mô tô chở con lưu thông chiều ngược lại, trên cổ chị T5 có đeo một sợi dây chuyền bằng kim loại vàng 18K nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lúc này, Q nói cho P biết và dừng xe lại kêu P điều khiển xe chở Q ngồi sau cướp giật tài sản. Sau đó, P điều khiển xe chở Q quay lại đuổi theo xe chị T5, Quốc ngồi sau dùng tay phải giật sợi dây chuyền màu vàng của chị T5 đang đeo trên cổ. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, P chở Q chạy đến tiệm V1 do anh Nguyễn Minh T6, sinh năm 1968 là chủ thuộc thị trấn P, huyện Đ bán sợi dây chuyền vàng 18K và mặt dây chuyền vàng 18K với số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, chị Vương Thị T5 đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Vật chứng vụ án: 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 1,5 chỉ, 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 0,3 chỉ (tài sản không thu hồi được).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐ ĐGTS ngày 30/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện L kết luận:
- 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 1,5 chỉ có giá trị: 4.875.000đồng.
- 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 0,3 chỉ có giá trị 975.000đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 5.850.000đồng.
Vụ thứ sáu: vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/8/2022, Q và P rủ Lê Hải Đ và Dư Thanh H đi ăn tại xã P, huyện L. Trong lúc ngồi ăn, Q, P và Đ ngồi bàn bạc với nhau tìm người sơ hở tài sản giật bán lấy tiền tiêu xài. P và Q sẽ thực hiện việc cướp giật tài sản còn Đ có nhiệm vụ cản đường nếu có người đuổi theo, Đ đồng ý tham gia (riêng H lúc này đang ngồi chơi điện thoại nên không biết việc bàn lạc giữa Q, P và Đ). Sau đó, Q điều khiển xe mô tô Winner màu đỏ đen, gắn biển số 72H1-257.67 chở P, Đ rủ H đi, H đồng ý nên Đ điều khiển xe mô tô Eciter, màu vàng đen, biển số 72K1-474.26 chở H.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi Q, P, Đ và H đi đến đoạn đường số 02 thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, Q nhìn thấy bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1958; Nơi cư trú: khu phố H, thị trấn L, huyện L đang điều khiển xe mô tô đi trên đường và trên cổ có đeo sợi dây chuyền bằng kim loại vàng 18K trên cổ. Thấy vậy, Q ra hiệu chỉ tay cho Đ chạy xe lên trước xe bà B1, còn Q dừng xe lại để P điều khiển xe chở Q nhằm để Q thực hiện hành vi giật tài sản. Lúc này, P điều khiển xe chở Q chạy từ phía sau lên áp sát vào xe bà B1, Q dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng trên cổ bà B1 rồi nhanh chóng chạy về hướng đèo nước ngọt để về thị trấn P. Đ chạy theo sau và có nhiệm vụ cản đường không cho bà B1 chạy đuổi theo để Q và P bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được sợi dây chuyền, Q và P đem sợi dây chuyền vàng 18K của bà B1 đến tiệm V1, thuộc khu phố H, thị trấn P, huyện Đ do ông Nguyễn Minh T6, sinh năm 1968; nơi cư trú: khu phố H, thị trấn P, huyện Đ làm chủ để bán sợi dây chuyền trên được số tiền 5.900.000 đồng. Sau khi về đến nhà của P, Q và P cho Đ số tiền 500.000 đồng, Đ không nói cho H biết vụ việc trên. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, bà Nguyễn Thị B1 đến cơ quan công an trình báo sự việc.
Vật chứng vụ án: 01 dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 2,3 chỉ, 01 mặt dây chuyền hình trái tim bằng cẩm thạch màu xanh (không thu hồi được).
Tại bản kết luận giám định tài sản số 46/KL-HĐ ĐGTS ngày 31/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện L kết luận:
- 01 dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 2,3 chỉ có giá trị 7.673.000đồng.
- 01 mặt dây chuyền hình trái tim bằng cẩm thạch màu xanh có giá 106.000đồng.
Tổng giá trị tài sản đã định: 7.673.000đồng.
Vụ thứ bảy: vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 04/8/2022, Q tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner màu đỏ gắn biển số 72H1-257.67 chở P, Lê Hải Đ điều khiển xe mô tô biển số 59P1-028.58 nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu xanh chạy một mình đi từ thị trấn P, huyện Đ đến thị trấn L, huyện L để tìm tài sản sơ hở chiếm đoạt. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Q, P và Đ đi đến đoạn đường V phát hiện chị Đoàn Thị O1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Ấp H, xã P, huyện L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH Mode, màu đỏ chở chị Đinh Vũ Anh T7, sinh năm 1990; Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện L ngồi sau ôm một túi xách màu đen nên cả ba nghĩ trong túi xách có tài sản. Lúc này, Q ra tín hiệu cho Đ điều khiển xe vượt lên để xem xét tình hình và làm nhiệm vụ cản trở, còn Q điều khiển xe chở P bám theo chị O1 và T7 đến đường H thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L. Khi thấy chị O1 dừng xe lại một tiệm tạp hóa bên đường để chị T7 mua đồ, Q nhanh chóng điều khiển xe chạy đến áp sát chị T7, P ngồi sau dùng tay giật túi xách mà chị T7 đang cầm rồi bỏ chạy về hướng đèo nước ngọt về thị trấn P, huyện Đ. Trên đường về, P gọi điện thoại cho Đ nói đến phòng trọ của P tại khu phố P, thị trấn P, huyện Đ. Một lúc sau, Đ chạy xe mô tô đến phòng trọ P có chở theo H. Tại đây, Q và P kiểm tra túi xách phát hiện 03 chiếc nhẫn, 02 đồng hồ đeo tay, số tiền 400.000đồng và một số giấy tờ gồm (01 căn cước công dân tên Đinh Trung T8, 01 card H6 tên Phạm Thị Thu H5, 01 thẻ A1 tên Phạm Thị Thu H5, 01 thẻ H6 tên Phạm Thị Thu H5, 01 thẻ visa tên Đinh Vũ Anh T7). Sau khi kiểm tra tài sản xong, P cho Đ số tiền 500.000đồng rồi rủ Đ đi đến tiệm V1 thuộc thị trấn L, huyện L để bán số tài sản vừa chiếm đoạt được. Đ nhận tiền, đồng ý và rủ H5 đi theo chơi. Đ điều khiển xe mô tô biển số 72K1-474.26 loại xe Yamaha nhãn hiệu Exciter, màu vàng chở H5, Q điều khiển xe mô tô biển số 72H1-257.67 chở P đi đến thị trấn L, huyện L. Trên đường đi, P đưa cho H5 một số giấy tờ chiếm đoạt được của chị T7 để H5 cất giữ. Thấy vậy, H5 hỏi P tài sản trên do đâu mà có, P nói cho H5 biết số tài sản trên là do P, Q và Đ mới cướp giật được của người phụ nữ ở thị trấn L, huyện L.
Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, Q, P, Đ và H5 đến tiệm V1 thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L. Tại đây, Q và P lấy 03 chiếc nhẫn bán cho một người phụ nữ, Đ và H5 đứng ngoài đợi. Trong lúc đang thỏa thuận, cơ quan công an thị trấn L phát hiện bắt quả tang. Qua làm việc, P, Q và Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 túi xách màu đen, bên ngoài có ghi chữ Chanel; 01 đồng hồ nữ có ghi chữ Rolex, màu vàng; 01 đồng hồ nữ màu trắng – bạc, mặt sau có chữ Ogival; 01 ví da, trên ví có ghi chữ Gucci, màu đen có sọc viền đỏ; 01 mắt kính màu đen, có ghi chữ Porsche; 01 nhẫn trơn bằng bạc, có đính một hột đá trang trí, mặt trong của nhẫn có khắc chữ Magise, có khối lượng 3,3131gam; 01 nhẫn bằng vàng 18K, trên nhẫn có đính một hột bằng đá mà trắng, có khối lượng 2,2294 gam; 01 nhẫn bằng vàng 18K, trên nhẫn có đính một hột màu trắng, có khối lượng 4,1706 gam; 01 ví da màu xám bên trong có một số giấy tờ gồm (01 căn cước công dân tên Đinh Trung T8, 01 card H6 tên Phạm Thị Thu H5, 01 thẻ A1 tên Phạm Thị Thu H5, 01 thẻ H6 tên Phạm Thị Thu H5, 01 thẻ visa tên Đinh Vũ Anh T7). Vào ngày 24/02/2022, cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả tất cả các tài sản trên cho chị Vũ Thị Anh T9 là chủ sở hữu.
Tại thông báo Kết quả giám định số 00571 ngày 01/11/2022 của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 03 tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- 01 nhẫn kim loại màu trắng bạc, trên nhẫn có đính hột màu trắng là nhẫn bằng hợp kim vàng, bề mặt được mạ Rhodi, có khối lượng 2,2294 gam.
- 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng bạc, có đính hột hạt to, xung quanh có nhiều hạt màu trắng nhỏ là nhẫn hợp kim vàng, bề mặt được mạ Rhodi, có khối lượng 4,8975 gam.
- 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng bạc, trên nhẫn có đính một hột mặt trong của nhẫn có khắc chữ M1 là nhẫn bằng hợp kim bạc, bề mặt được mạ Rhodi, có khối lượng 3,3131gam.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐ ĐGTS ngày 10/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện L kêt luận:
- 01 túi xách màu đen, bên ngoài có ghi chữ Chanel có giá trị: 1.800.000đồng.
- 01 đồng hồ nữ, có ghi chữ Rolex, màu vàng trị giá 8.400.000đồng.
- 01 đồng hồ nữ màu bạc – trắng, mặt sau có ghi chữ Ogival có giá trị: 8.600.000đồng.
- 01 ví da, trên ví có ghi chữ Gucci, màu đen có sọc viền đỏ có giá trị: 1.700.000đồng.
- 01 mắt kính màu đen, có ghi chữ Porsche có giá trị: 900.000đồng.
- 01 nhẫn kim loại màu trắng bạc, trên nhẫn có đính hột màu trắng là nhẫn bằng hợp kim vàng, bề mặt được mạ Rhodi, có khối lượng 2,2294 gam có giá trị 1.917.284 đồng.
- 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng bạc, có đính hột hạt to, xung quanh có nhiều hạt màu trắng nhỏ là nhẫn hợp kim vàng, bề mặt được mạ Rhodi, có khối lượng 4,8975 gam có giá trị 3.624.150 đồng.
- 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng bạc, trên nhẫn có đính một hột mặt trong của nhẫn có khắc chữ M1 là nhẫn bằng hợp kim bạc, bề mặt được mạ Rhodi, có khối lượng 3,3131gam có giá trị 81.414đồng.
Tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá trong vụ thứ 7 là: 27.022.848 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2023/HSST ngày 30/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh Q, Lê Thị Diễm P phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lê Hải Đ phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị cáo Dư Thanh H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
- Áp dụng điểm c, d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;
- Áp dụng điểm c, d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Lê Thị Diễm P 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;
- Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, tuyên phạt bị cáo Lê Hải Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”;
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Anh Q phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội trên là 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2022.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Lê Thị Diễm P 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc Lê Thị Diễm P phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội trên là 03 (ba) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, tuyên phạt bị cáo Lê Hải Đ 10 (mười) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc Lê Hải Đ phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội trên là 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2022.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Dư Thanh H 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 12/6/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền ban hành Kháng nghị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2023/HSST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền với nội dung đề nghị tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Anh Q, Lê Thị Diễm P; đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự và tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lê Hải Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền được ban hành đúng thẩm quyền và thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể do đó kháng nghị của các bị cáo là hợp lệ. Về nội dung: kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền là có căn cứ, các bị cáo tại phiên tòa cũng thừa nhận và không tham gia tranh luận nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền ban hành trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền, chủ thể nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
2.1 Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong giai đoạn từ ngày 16/07/2022 đến ngày 04/08/2022, Nguyễn Anh Q, Lê Thị Diễm P đã sử dụng xe máy thực hiện 6 vụ cướp giật tài sản trong đó có 2 vụ có sự giúp sức của Lê Hải Đ với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 97.335.848 đồng và một vụ trộm cắp tài sản có giá trị là 9.000.000 đồng. Sau khi cướp giật được tài sản, Q và P đã nhờ Đ và bạn gái đi tiêu thụ để hưởng lợi bất chính. Hành vi nêu trên của Q và P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Căn cứ vào giá trị tài sản chiếm đoạt, tiêu thụ của từng vụ và phương thức, thủ đoạn, Toà án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Nguyễn Anh Q và Lê Thị Diễm P về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, d Khoản 2 Điều 171 và Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; tuyên phạt bị cáo Lê Hải Đ về tội “Cướp giật tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 và Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
2.2 Xét Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền về việc tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Anh Q, Lê Thị Diễm P; không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự và tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lê Hải Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo Nguyễn Anh Q và Lê Thị Diễm P đã dùng xe máy là thủ đoạn nguy hiểm thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản với giá trị gần 100 triệu đồng. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp mà còn có thể nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ cũng như trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Anh Q còn là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử nhiều lần về các tội danh khác nhau cũng như có tiền sự bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Do đó, mặc dù áp dụng nhiều tình tiết định khung hình phạt và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Toà án cấp sơ thẩm chỉ tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Anh Q 4 năm tù, bị cáo Lê Thị Diễm P 3 năm tù về hành vi “Cướp giật tài sản” nêu trên là không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, không đủ sức răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Hơn nữa, các bị cáo Nguyễn Anh Q và Lê Thị Diễm P không có công ăn việc làm ổn định, không có nguồn thu nhập chính, các bị cáo thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” trên 5 lần và dùng nguồn tiền có được từ việc bán tài sản cướp giật, trộm cắp để làm nguồn sinh sống nên hành vi của các bị cáo là có tính chất chuyên nghiệp. Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết định khung này đối với các bị cáo là thiếu sót nhưng do không có kháng nghị của Viện kiểm sát về nội dung này nên Hội đồng xét xử không làm xấu thêm tình trạng của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm rút kinh nghiệm.
Mặt khác, bị cáo Lê Hải Đ trong quá trình điều tra, truy tố không cung cấp thông tin giúp các cơ quan tố tụng phát hiện ra hành vi phạm tội mới hay người phạm tội mới hoặc có lập công, đóng góp lớn cho Cơ quan điều tra trong quá trình sinh sống nên việc áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không chính xác. Do áp dụng không chính xác tình tiết này nên việc Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để tuyên phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không đúng quy định của pháp luật và cũng không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Từ những nhận định nêu trên, xét thấy Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền là có căn cứ nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử quyết định tăng nặng hình phạt đối với hai bị cáo Nguyễn Anh Q, Lê Thị Diễm P về tội “Cướp giật tài sản”; không áp dụng các quy định tại điểm t Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Hải Đ và tăng nặng hình phạt của bị cáo Đ về tội “Cướp giật tài sản”.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Các bị cáo không chịu phải án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 36/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm a Khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chấp nhận toàn bộ Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, sửa Bản án sơ thẩm số 89/2023/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ và phần hình phạt đối với 03 bị cáo Nguyễn Anh Q, Lê Thị Diễm P và Lê Hải Đ;
- Áp dụng điểm c, d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 06 (sáu) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;
- Áp dụng điểm c, d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Lê Thị Diễm P 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;
- Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Lê Hải Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”;
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Anh Q phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội trên là 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2022.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Lê Thị Diễm P 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Thị Diễm P phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội trên là 04 (bốn) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Lê Hải Đ 10 (mười) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Hải Đ phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội trên là 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2022.
- Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(21/8/2023)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thái Hùng |
Bản án số 84/2023/HSPT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về vụ án hình sự phúc thẩm (cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 84/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Q - Cướp giật tài sản
