|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ngày 21-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lò Minh Ngọc.
Ông Tòng Văn Máy.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lèo Văn L, sinh ngày 24/7/1994, tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Bủng, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lèo Văn S, đã chết và con bà Lò Thị M, sinh năm 1970; chưa có vợ con; Tiền án: Không, Tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Lò Xuân D, sinh ngày 07/02/2004, tại C, thành phố S, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Sẳng, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn D1, đã chết và con bà Lò Thị K, sinh năm 1978; chưa có vợ con; Tiền án: Tại bản án số 144/2022/HSST ngày 31/8/2022 Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; Tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Nguyễn Văn S1, sinh ngày 08/12/1999, tại H, C, Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Bản Púng, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1979 và con bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1979; chưa có vợ con; Tiền án: Tại bản án số 163/2022/HSST ngày 14/9/2022 Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; Tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lèo Văn L, Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 04/01/2004, tại bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Lò Xuân D, sinh ngày 07/02/2024 ở bản S, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La và Nguyễn Văn S1, sinh ngày 08/12/1999, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La.
Vật chứng thu giữ do Lò Xuân D tự giác lấy từ trong lòng tay bên trái giao nộp: 01 gói ba lớp ni lon màu xanh, bên trong có lớp giấy trắng bên trong có chứa các cục bột màu trắng, Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 khai là H để sử dụng, mua của Lèo Văn L, sinh ngày 24/7/1994, ở bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La với số tiền 400.000, đồng;
Số tiền 200.000, đồng (02 tờ mệnh giá 100.000, đồng), thu giữ của Nguyễn Văn S1 khai là tiền Lò Xuân D đưa cho góp cùng mua ma túy;
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lò Xuân D;
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A9, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, cũ qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn S1;
Bắt giữ khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với Lèo Văn L, sinh ngày 24/7/1999, ở bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1.
Vật chứng thu giữ do Lèo Văn L tự giác giao nộp:
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO 1713, màn hình cảm ứng, màu hồng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lèo Văn L;
Ngày 04/01/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do Lò Xuân D tự giác lấy từ trong lòng tay bên trái giao nộp:
01 gói ba lớp ni lon màu xanh, bên trong có lớp giấy trắng bên trong có chứa các cục bột màu trắng có khối lượng 0,12 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu DS1;
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 269/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:
Mẫu ký hiệu DS1 là ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,05 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam Heroine.
Kết luận giám định số tiền 200.000, đồng là tiền thật.
Kết quả thông tin chuyển khoản tiền mua bán ma túy do Nguyễn Văn S1 chuyển qua tài khoản của Lèo Văn L là 400.000, đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lèo Văn L, Lò Xuân D, Nguyễn Văn S1 không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Lèo Văn L, Lò Xuân D, Nguyễn Văn S1 khai nhận:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 04/01/2024 Nguyễn Văn S1 gọi điện thoại cho Lò Xuân D rủ góp tiền đi mua ma túy về cùng sử dụng, hai người nhất trí, do Lò Xuân D quen biết Lèo Văn L nên đã gọi điện trước và hẹn đến nhà Lèo Văn L ở bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Nguyễn Văn S1 và Lò Xuân D đi xe buýt lên bản Bủng, xã M, huyện M vào nhà của Lèo Văn L, khi vào nhà Lò Xuân D trực tiếp trao đổi mua bán ma túy với Lèo Văn L. Lò Xuân D đưa cho Nguyễn Văn S1 200.000, đồng. Lèo Văn L nhận chuyển khoản 400.000, đồng của Nguyễn Văn S1. Sau đó Lèo Văn L đi ra ngoài gọi cho Lèo Văn P, sinh năm 1991 là người cùng bản trao đổi chuyển khoản 400.000, đồng cho P để lấy của phương 400.000, đồng tiền mặt, sau khi có tiền mặt Lèo Văn L đi vào trong bản gặp và mua của một thanh niên không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với số tiền 400.000, đồng, có ma túy Lèo Văn L lấy một ít sử dụng (chích) xong số còn lại mang về nhà đưa cho Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1. Khi có ma túy mỗi người tự tách và mỗi người ra một góc tự sử dụng (đốt hít). Lúc hai người sử dụng trong nhà của Lèo Văn L, Lèo Văn L biết, nhìn thấy và để yên cho hai người đốt hít ma túy. Số ma túy còn lại Lò Xuân D gói thêm ba lớp ni lon màu xanh, cầm trong tay trái đi về đến bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang.
Ngoài ra trước đó khoảng giữa đến gần cuối tháng 12/2023 Lèo Văn L bán cho Lò Xuân D 01 gói Heroine với số tiền 200.000, đồng. Lò Xuân D sử dụng luôn trong nhà của Lèo Văn L, Lèo Văn L biết, nhìn thấy và để yên cho Lò Xuân D đốt hít ma túy.
Sau đó khoảng cuối tháng 12/2023 Lèo Văn L bán cho Lò Xuân D 01 gói Heroine với số tiền 200.000, đồng. Lò Xuân D sử dụng luôn trong nhà của Lèo Văn L, Lèo Văn L biết, nhìn thấy và để yên cho Lò Xuân D đốt hít ma túy.
Số tiền 400.000, đồng hai lần bán ma túy cho Lò Xuân D, Lèo Văn L đã chi tiêu hết.
Về nguồn gốc số ma túy Lèo Văn L hai lần bán ma túy cho Lò Xuân D, khoảng giữa tháng 12/2023 tại khu vực bản H, xã M, huyện M gặp mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền 500.000, đồng. Sau khi mua được mang về mục để sử dụng và bán kiếm lời.
Số ma túy Lèo Văn L khai mua ở bản B, xã M, huyện M của một người thanh niên không biết tên, địa chỉ với số tiền 400.000, đồng.
Không có căn cứ điều tra về hai người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Lèo Văn L.
Đối với Lèo Văn P, sinh năm 1991 ở bản B, xã M, huyện M Công an đã xác minh không có mặt tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lèo Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Lò Xuân D, Nguyễn Văn S1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 49/CT-VKS-ML ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lèo Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Truy tố bị cáo các bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lèo Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lèo Văn L từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt Lèo Văn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố các bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Xuân D từ 30 đến 36 tháng tù;
Xử phạt Nguyễn Văn S1 từ 32 đến 38 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng:
Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy trắng; 0,07 gam Heroine (được niêm phong) và 02 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở (niêm phong điện thoại).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 200.000, đồng do để góp mua bán ma túy mà có của Nguyễn Văn S1.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước đối với 03 chiếc điện do dùng vào việc phạm tội liên lạc mua bán ma túy:
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lò Xuân D;
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A9, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, cũ qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn S1;
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO 1713, màn hình cảm ứng, màu hồng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lèo Văn L.
Buộc Lèo Văn L truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 800.000, đồng mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lèo Văn L:
Lèo Văn L, Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 thừa nhận: Ngày 04/01/2024, tại nhà của Lèo Văn L ở bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Lèo Văn L đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng là 0,12 gam cho Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 để lấy 400.000, đồng. Đồng thời Lèo Văn L mặc nhiên cho Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 sử dụng đốt hít Heroine tại nhà.
Xét hành vi bán ma túy của Lèo Văn L đã được đối chất và làm rõ tại phiên tòa: Khi trao đổi mua bán ma túy, đã biết hai người Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 góp tiền với nhau để mua ma túy, Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 công nhận Lèo Văn L bán ma túy cho hai người với số tiền góp là 400.000, đồng. Do đó có căn cứ xác định Lèo Văn L bán ma túy cho hai người.
Ngoài ra trước đó các bị cáo Lèo Văn L và Lò Xuân D khai ra hành vi phạm tội: Khoảng giữa đến gần cuối tháng 12/2023 Lèo Văn L bán cho Lò Xuân D 01 gói Heroine với số tiền 200.000, đồng. Lò Xuân D sử dụng luôn trong nhà của Lèo Văn L, Lèo Văn L biết, nhìn thấy và để yên cho Lò Xuân D đốt hít ma túy.
Sau đó khoảng cuối tháng 12/2023 Lèo Văn L bán cho Lò Xuân D 01 gói Heroine với số tiền 200.000, đồng. Lò Xuân D sử dụng luôn trong nhà của Lèo Văn L, Lèo Văn L biết, nhìn thấy và để yên cho Lò Xuân D đốt hít ma túy.
Số tiền 400.000, đồng hai lần bán ma túy cho Lò Xuân D, Lèo Văn L đã chi tiêu hết.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Lèo Văn L đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Phạm tội hai lần trở lên” và “Đối với hai người trở lên” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý của Lèo Văn L được xác định: Ngày 04/01/2024, tại nhà Lèo Văn L đã mặc nhiên cho Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 sử dụng đốt hít Heroine trong nhà.
Ngoài ra trước đó các bị cáo Lèo Văn L và Lò Xuân D khai ra hành vi phạm tội: Khoảng giữa đến gần cuối tháng 12/2023 Lèo Văn L mặc nhiên cho Lò Xuân D hai lần sử dụng đốt hít Heroine tại nhà.
Xét thấy: Hành vi mặc nhiên là thuộc bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, nên việc mặc nhiên cho Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 sử dụng đốt hít H tại nhà chỉ cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và mặc nhiên cho Lò Xuân D hai lần sử dụng đốt hít Heroine tại nhà cũng chỉ cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lèo Văn L đã thực hiện hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo, khai ra hành vi phạm tội trước đó được xác định là tự thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1:
Bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 thừa nhận: Ngày 04/01/2024 đã cùng cất giữ trái phép chất ma túy là 01 gói Heroine có khối lượng là 0,12 gam để sử dụng, thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo.
Về nhân thân: Các bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 đều có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Đều có một tiền án:
Tại bản án số 144/2022/HSST ngày 31/8/2022 Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Xuân D 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích;
Tại bản án số 163/2022/HSST ngày 14/9/2022 Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt Nguyễn Văn S1 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích.
Nay tiếp tục phạm tội là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h “Tái phạm” khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 đều không có tiền sự. Đều thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hai bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 khai ra hành vi phạm tội của Lèo Văn L, giúp phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
[4]. Xét về vai trò đồng phạm: Bị cáo Nguyễn Văn S1 với vai trò chủ mưu, đã chủ động rủ rê bị cáo Lò Xuân D tham gia mua, cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự để xem xét lên mức hình phạt cho các bị cáo.
[5]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy trắng ; 0,07 gam Heroine (được niêm phong) và 02 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở (niêm phong điện thoại).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 200.000, đồng do để góp mua bán ma túy mà có của Nguyễn Văn S1 (được niêm phong).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước đối với 03 chiếc điện do dùng vào việc phạm tội liên lạc mua bán ma túy:
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lò Xuân D;
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A9, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, cũ qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn S1;
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO 1713, màn hình cảm ứng, màu hồng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lèo Văn L (đều được niêm phong).
Buộc Lèo Văn L truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 800.000, đồng mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.
[6]. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy Lèo Văn L hai lần bán ma túy cho Lò Xuân D, khoảng giữa tháng 12/2003 tại khu vực bản H, xã M, huyện M gặp mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền 500.000, đồng. Số ma túy Lèo Văn L khai mua ở bản B, xã M, huyện M của một người thanh niên không biết tên, địa chỉ với số tiền 400.000, đồng. Đều không có căn cứ điều tra về hai người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Lèo Văn L. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Đối với Lèo Văn P, sinh năm 1991 ở bản B, xã M, huyện M Công an đã xác minh không có mặt tại địa phương.
Đối với hành vi của Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 sử dụng ma túy. Được xác định Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 cùng nhau đi mua để sử dụng. hai người góp tiền, khi chia ma túy để sử dụng thì mỗi người tự lấy và tự sử dụng riêng. Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 đều không có ý thức cung cấp ma túy cho người khác và nhằm đưa ma túy vào cơ thể của nhau. Nên không có dấu hiệu của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Lèo Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lèo Văn L 11 (mười một) năm tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 256; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Lèo Văn L phạm tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lèo Văn L 02 (hai) năm tù.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội. Buộc Lèo Văn L phải chấp hành hình phạt chung là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/01/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h “Tái phạm” khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Xuân D 32 (ba mươi hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1 34 (ba mươi tư) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với hai bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy trắng; 0,07 (không phẩy không bẩy) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 04/01/2024). Và 02 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong, kiểm tra điện thoại và niêm phong lại ngày 05/01/2024).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) do để góp mua bán ma túy mà có của Nguyễn Văn S1 (được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 26/3/2024).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước đối với 03 chiếc điện do dùng vào việc phạm tội liên lạc mua bán ma túy:
- 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lò Xuân D;
- 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A9, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, cũ qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn S1;
- 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO 1713, màn hình cảm ứng, màu hồng, cũ qua sử dụng, thu giữ của Lèo Văn L (đều được niêm phong theo biên bản mở niêm phong, kiểm tra điện thoại và niêm phong lại ngày 05/01/2024).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Buộc Lèo Văn L truy thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 800.000, đồng (tám trăm nghìn đồng) mua bán ma túy mà có đã chi tiêu hết.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lèo Văn L, Lò Xuân D và Nguyễn Văn S1 phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/5/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) (đã ký) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA LVL và đp
