Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/DS-PT

Ngày: 19/3/2025

V/v tranh chấp Hợp đồng

vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu;

Các Thẩm phán: Ông Lâm Tấn Vinh;

Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn-Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích-Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 265/2024/TLPT-DS ngày 21/11/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 210/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 43/2025/QĐ-PT ngày 20/01/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh ngày 04/5/1992; Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Số G, đường số F, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt)

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Thị K:

1. Bà Đặng Thị Út P, sinh ngày 26/10/1997; Địa chỉ: Số G, đường số F, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (theo giấy ủy quyền ngày 29/02/2024) (có mặt)

2. Bà Nguyễn Bảo N, sinh ngày 21/10/1992; Địa chỉ: Số G, đường số F, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (theo giấy ủy quyền ngày 29/02/2024) (vắng mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh Hoàng S-Luật sư của Công ty TNHH MTV K2; Địa chỉ liên hệ: Số G, đường số F, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt)

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1988; Địa chỉ thường trú: Số A, đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Số C, đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Đăng K1, sinh năm 1987; Địa chỉ thường trú: Số A, đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện nay: Số C, đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

- Người đại diện hợp pháp của các bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số F, đường L, Khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo hợp đồng ủy quyền ngày 19/02/2025); (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thùy L; Sinh ngày: 11/12/1990; Địa chỉ thường trú: Số H, đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ hiện tại: Số A đường số A, Khu dân cư E, T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thanh Q là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/01/2024 của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Đặng Thị Út P, bà Nguyễn Bảo N tại phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị K quen biết bà Nguyễn Thanh Q từ trước và có biết bà Q làm ở ngân hàng. Giữa năm 2020, bà Q và chồng là ông Nguyễn Đăng K1 có đến tìm bà Nguyễn Thị K vay tiền để làm đáo hạn ngân hàng cho khách. Bà Q hứa sau khi khách hàng được giải ngân trong vòng 05 đến 07 ngày thì thanh toán lại tiền và chia cho bà Nguyễn Thị K một khoản tiền hoa hồng. Do quen biết từ trước nên bà Nguyễn Thị K đã tin tưởng cho bà Q vay tiền thông qua các hình thức: chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng của bà Q, chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng của bà Lê Thị Thùy L theo yêu cầu của bà Q, giao tiền mặt cho bà Q tại nhà bà Nguyễn Thị Kiều. Thời gian đầu, bà Q thanh toán lại tiền cho bà Nguyễn Thị K rất đúng hạn. Tuy nhiên đến khoảng cuối tháng 12/2021, bà Q bắt đầu thanh toán tiền cho bà Nguyễn Thị K chậm trễ, không đúng như thỏa thuận ban đầu. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2021 đến đầu tháng 4/2022, bà Q báo có nhiều khách hàng cần đáo hạn nên đã yêu cầu bà Nguyễn Thị K cho vay số tiền nhiều hơn, số lần chuyển tiền cũng tăng hơn trước. Thời gian này, bà Q liên tiếp yêu cầu bà Nguyễn Thị Kiều C tiền trong khi vẫn chưa thanh toán cho bà Nguyễn Thị K số tiền vay trước đó đã đến hạn. Sau nhiều lần yêu cầu bà Q thanh toán thì ngày 28/6/2022 bà Q và ông Nguyễn Đăng K1 có ký giấy biên nhận xác nhận đã mượn bà Nguyễn Thị K tổng số tiền là 11.000.000.000 (Mười một tỷ) đồng tính đến ngày 29/3/2022.

Thời hạn cho vay khá lâu, bà Nguyễn Thị K nhiều lần liên hệ với bà Q để yêu cầu thanh toán, tuy nhiên bà Q đã cố tình trốn tránh, không liên lạc với bà Nguyễn Thị Kiều. Sau đó, bà Nguyễn Thị K có gửi đơn yêu cầu hòa giải đến Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S để yêu cầu tổ hòa giải mời vợ chồng bà Q lên để giải quyết việc thanh toán cho bà Nguyễn Thị K số tiền 11.000.000.000 (Mười một tỷ) đồng trên. Sau hai lần mời hòa giải vào ngày 20/7/2022 và ngày 22/7/2022, bà Q và ông K1 đều vắng mặt không lý do. Việc bà Nguyễn Thanh Q và ông Nguyễn Đăng K1 chậm thanh toán và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị K xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kiều. Vì vậy, bà Nguyễn Thị K yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng giải quyết:

Buộc bà Nguyễn Thanh Q và ông Nguyễn Đăng K1 phải trả một lần và toàn bộ cho bà Nguyễn Thị K số tiền 11.000.000.000 đồng (Mười một tỷ) đồng

Buộc bà Nguyễn Thanh Q và ông Nguyễn Đăng K1 phải trả một lần và toàn bộ cho bà Nguyễn Thị K số tiền lãi phát sinh từ số công nợ trên tính từ ngày 22/7/2022 đến ngày 23/9/2024 theo mức tạm tính “lãi suất 10%/năm của khoản tiền vay” (Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015) với số tiền là 2.395.890.411 đồng.

Như vậy, bà Nguyễn Thanh Q và ông Nguyễn Đăng K1 phải thanh toán một lần và toàn bộ cho bà Nguyễn Thị K tổng số tiền là 13.395.890.411 đồng.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thanh Q có người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Võ Anh T1 trình bày: Bà Nguyễn Thanh Q chỉ là trung gian nhận tiền hoa hồng của bà K và bà L, chứ bà Q không có vay mượn của bà Nguyễn Thị K số tiền 11 tỷ đồng, việc viết biên nhận ngày 28/6/2022 do bà Q bị đe dọa, cưỡng ép nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Tờ biên nhận ngày 28/6/2022 vô hiệu.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Đăng K1 vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, có văn bản tường trình có nội dung: Ông không hề biết sự việc xảy ra như thế nào, đến khi bà Nguyễn Thị K kêu nhóm người lạ qua nhà để chửi bới cũng như đe dọa, đánh làm vợ ông là bà Nguyễn Thanh Q sợ hãi, sự việc cứ diễn ra một khoảng thời gian dài, dẫn đến ông và bà Q không thể tỉnh táo và đủ nhận thức để có thể suy nghĩ được, do thương vợ là bà Q nên ông bị bà Nguyễn Thị Kiều É vợ chồng ông ký vào Giấy nhận nợ ngày 28/6/2022.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thùy L trình bày: Thời điểm trước khi bà L bị tạm giam thì bà có gặp bà Q, bà Q có nói với bà L kêu bà L nhận nợ dùm bà Q, không bà Q tự tử, nên bà L có từng ký biên nhận phần người nhận tiền nhưng bà K không chịu, vì đây là khoản tiền làm ăn giữa bà K với bà Q bên ngoài, đối với khoản tiền bà K khởi kiện bà Q là do bà Q giao dịch với bà K thì không có liên quan đến bà L. Việc bà L nhận tiền từ bà K, bà Q là một khoản tiền riêng không liên quan đến vụ án này

* Vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 210/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 92, Khoản 1 Điều 95, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K: Buộc bà Nguyễn Thanh Q, ông Nguyễn Đăng K1 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị K số tiền là 13.395.890.411đồng (Mười ba tỷ ba trăm chín mươi lăm triệu tám trăm chín mươi nghìn bốn trăm mười một đồng) (trong đó: nợ gốc 11.000.000.000đồng, nợ lãi 2.395.890.411 đồng).

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Đến ngày 11/10/2024, bị đơn bà Nguyễn Thanh Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; Bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng như sau:

+ Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự và các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thanh Q là không có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền 13.395.890.411 đồng là có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, xem xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù nguyên đơn bà Nguyễn Thị K vắng mặt nhưng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt các bị đơn Nguyễn Thanh Q và Nguyễn Đăng K1 vắng mặt nhưng có người đại diện của bị đơn có mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo do bị đơn bà Nguyễn Thanh Q lập và nộp trực tiếp cho Tòa án cấp sơ thẩm cùng ngày 11/10/2024 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị đơn theo trình tự phúc thẩm, xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.

[3] Về kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thanh Q, về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị K: Trong vụ án này xuất phát từ việc các bên kinh doanh đáo hạn ngân hàng, nhằm mục đích lợi nhuận bà K và bà Q đã giao dịch chuyển tiền với nhau hàng tỷ đồng, do bà Q không có nguồn tiền đủ để chuyển tiền cho bà Lê Thị Thùy L thực hiện việc kinh doanh (do bà L đưa thông tin) nên giữa bà Q và bà K đã thỏa thuận chuyển tiền cho nhau để chuyển lại cho bà L "kinh doanh", lúc đầu từ thông tin bà L việc kinh doanh có lợi nhuận nên chuyển khoản lợi nhuận lại cho bà Q, bà Q chuyển khoản lợi nhuận cho bà K, “bà Q, bà K tất cả đều có lợi nhuận, nhưng bà Q có lợi nhuận với tỷ lệ ít hơn bà K”. Vào thời điểm bà L thông tin và chuyển tiền cho bà Q về khoản lợi nhuận lần thứ nhất, thứ hai, ... thì bà Q thể hiện đã đầu tư “kinh doanh” từ nguồn tiền của chính mình và của bà K chuyển qua tài khoản bà Q” cho đến khi bà L không còn khả năng chi trả thì bà Q thực tế phải chịu áp lực trách nhiệm đã nhận tiền từ bà Nguyễn Thị K, mà không thể chuyển tiền trả lại cho bà Nguyễn Thị K “khoản tiền gốc và lợi nhuận”. Như vậy, các bên đã phát sinh thỏa thuận một bên đưa tiền cho bên còn lại đầu tư có lợi nhuận thì hưởng lợi nhưng trường hợp khoản tiền đầu tư bị thiệt hại thì ai là người nhận tiền thì phải trả tiền. Từ đây, nguyên đơn đã liên tục liên lạc với bị đơn bà Nguyễn Thanh Q, ông Nguyễn Đăng K1 để đòi lại khoản tiền đã đưa cho bà Q, áp lực trách nhiệm cá nhân ảnh hưởng tinh thần của bị đơn là thật, nhưng là trách nhiệm trả khoản nợ nên vào ngày 28/6/2022, bà Q, ông K1 cùng mẹ bà Q, cậu bà Q đến nhà bà Nguyễn Thị K thống nhất viết biên nhận nợ: “Hôm nay, ngày 28/6/2022, tôi tên Nguyễn Thanh Q...ngày 29/3/2022 tôi có mượn tổng cộng 11.000.000.000 ₫ (Mười một tỷ đồng chẳn) của chị Nguyễn Thị K “mục người nhận tiền ký tên và điểm chỉ “Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Đăng Kl”. Do đó, nguyên đơn với bị đơn chốt khoản nợ nên đủ cơ sở Hội đồng xét xử xác định: Bà Nguyễn Thanh Q, ông Nguyễn Đăng K1 có vay tiền của bà Nguyễn Thị K với số tiền 11.000.000.000 đồng (mười một tỷ đồng). Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp

luật tranh chấp là Hợp đồng vay tài sản là phù hợp theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền vốn gốc là 11.000.000.000 đồng và tiền lãi là 2.395.890.411 đồng (tính từ ngày 22/7/2022 đến ngày 23/9/2024, với mức lãi suất 10%/năm) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 466, 468, 469 và 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm là 121.395.890 đồng và trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị đơn kháng cáo cho rằng khi ký biên nhận nợ ngày 28/6/2022 là bị uy hiếp nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh rằng các bị đơn bị uy hiếp.

Ngoài ra bị đơn còn cho rằng căn cứ theo các sao kê tài khoản của 3 ngân hàng mà nguyên đơn và bị đơn giao dịch thì số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn khoản 5,5 tỷ đồng chứ không phải 11 tỷ đồng. Xét thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn giao dịch qua lại với nhau nhiều khoản tiền và nhiều hình thức giao nhận đến ngày 28/6/2022 nguyên đơn và bị đơn ký biên nhận chốt nợ và theo biên nhận này thể hiện số tiền bị đơn còn thiếu nguyên đơn là 11 tỷ đồng. Sau ngày 28/6/2022 đến nay bị đơn không có thanh toán khoản tiền nào cho nguyên đơn. Do đó, bị đơn cho rằng bị đơn chỉ còn nợ nguyên đơn 5,5 tỷ đồng là chưa đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Từ những nhận định trên, căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bị đơn bà Nguyễn Thanh Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thanh Q. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 210/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

* Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thanh Q chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002096 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

* Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thành phố Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hữu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 84/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị K-Nguyễn Thanh Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger