|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 84/2025/DS-PT Ngày 19-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Huỳnh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Ngọc Thạch; |
| Bà Trần Thị Thắm. |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 770/2024/TLPT-DS ngày 25/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 35/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1988; địa chỉ: khu phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1996; địa chỉ: tổ D, khu phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 10/6/2021); có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Đình Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Lê Viễn D, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Đặng Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị H.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị V trình bày:
Ngày 25/4/2021, bà Lê Thị H có ký hợp đồng đặt cọc với ông Trần Đình Đ để nhận chuyển quyền đối với quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 053604, số vào sổ CS 07379 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2020 cho Nguyễn Thị Thu H1 đối với phần đất có diện tích 584,8m² thuộc thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Giá sang nhượng hai bên thỏa thuận là 2.370.000.000 đồng. Thời hạn thực hiện hợp đồng kể từ ngày 25/4/2021 đến ngày 03/6/2021. Bà H đã đặt cọc cho ông Đ số tiền theo thỏa thuận như sau: lần 01 số tiền 85.000.000 đồng, lần 2 số tiền 115.000.000 đồng, tổng cộng 02 lần giao là số tiền: 200.000.000 đồng.
Quá hạn theo thỏa thuận, ông Trần Đình Đ vẫn chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý để sang tên. Lúc này bà H cũng mới biết ông Đ cũng không phải là chủ sở hữu của thửa đất đã đặt cọc.
Nhận thấy, ông Đ không có quyền đặt cọc chuyển nhượng phần đất trên nhưng ông vẫn ký hợp đồng đặt cọc, vì thế, bà H làm đơn khởi kiện ông Trần Đình Đ ra Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo yêu cầu giải quyết:
Yêu cầu tuyên Hợp đồng đặt cọc đã ký kết ngày 25/4/2021 giữa bà Lê Thị H và ông Trần Đình Đ là vô hiệu; buộc ông Trần Đình Đ có trách nhiệm trả lại cho bà H số tiền cọc là 200.000.000 đồng, yêu cầu buộc ông Đ phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Đình Đ trình bày:
Ông Trần Đình Đ thống nhất nội dung mà bà Nguyễn Thị V trình bày đối với “Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" ký kết ngày 25/4/2021 giữa ông Đ và bà H đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Ông Trần Đình Đ có nhận số tiền 200.000.000 đồng từ bà H, tuy nhiên bà H và ông D có xin lại 45.000.000 đồng tiền môi giới. Thực tế còn lại chỉ 155.000.000 đồng. Ông Trần Đình Đ thừa nhận khi ký hợp đồng đặt cọc, ông Trần Đình Đ không phải là chủ sử dụng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà là do bà Nguyễn Thị Thu H1 đứng tên quyền sử dụng thửa đất (ngày 13/4/2021, ông Trần Đình Đ đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên của bà H1, bà H1 ủy quyền bằng lời nói và có văn bản thỏa thuận cho phép ông Đ thay mặt bà H1 nhận cọc chuyển nhượng lại cho người khác), khi nào ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho khách của ông Đ thì thông báo cho bà H1 biết để ra văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho khách của ông Đ, khi ký hợp đồng đặt cọc bà H biết ông Đ không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà là đứng tên bà H1, sau khi ký hợp đồng đặt cọc thì ông Đ và bà H1 đã làm đầy đủ thủ tục như xác nhận tình trạng bất động sản, trích lục thửa đất. Tuy nhiên, đến thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 03/6/2021 thì bà H cố tình không đến văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng. Do bà H vi phạm hợp đồng chuyển nhượng nên ngày 04/6/2023 ông Đ đã ký hợp đồng công chứng từ bà H1 và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, với yêu cầu khởi kiện của bà H, ông Đ không đồng ý. Ông Đ đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng và đồng ý chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Lê Thị H.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thu H1 thống nhất nội dung mà ông Trần Đình Đ trình bày đối với “Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" ký kết ngày 25/4/2021 giữa ông Đ và bà H đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Giữa bà H1 và ông Đ có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương với giá 2.100.000.000 đồng, bà H1 đã nhận cọc của ông Đ là 400.000.000 đồng. Sau đó, ông Trần Đình Đ chuyển nhượng lại thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương cho bà Lê Thị H (bà H1 biết và đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên cho bà H), bà H1 và ông Đ có thỏa thuận cho ông Đ được quyền nhận cọc chuyển nhượng lại cho người thứ 3 và đồng ý công chứng chuyển nhượng cho bên thứ 3 theo yêu cầu của ông Đ. Tuy nhiên, đến thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C tại xã V, huyện P vào ngày 03/6/2023 thì bà H không ra công chứng nên ngày 04/6/2023 bà H1 đã ký công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên cho ông Trần Đình Đ theo như hợp đồng đã ký kết giữa bà H1 và ông Đ.
Nay, với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H, bà Nguyễn Thị Thu H1 không có yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người làm chứng bà Lê Thị N trình bày: Bà Lê Thị N thống nhất nội dung mà bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày đối với “Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" ký kết ngày 25/4/2021 giữa ông Đ và bà H đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T trình bày:
Ngày 25/4/2021, ông Đặng Văn T có góp vốn mua đất cùng ông Trần Đình Đ. Ngày 03/6/2021, ông T, ông Đ, bà N và bà H1 có lên Văn phòng C để làm thủ tục công chứng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương sang cho bà Lê Thị H nhưng bà H không đến. Sau đó, ông Lê Viễn D đến thì không đem đầy đủ các loại giấy tờ nên không làm thủ tục công chứng được cho bà H. Ngày 04/6/2021, bà Nguyễn Thị Hồng G (vợ ông T), ông Đ, bà N và bà H1 đã làm thủ tục sang tên cho ông Trần Đình Đ đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Nay, với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H, ông Đặng Văn T không có yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng G trình bày:
Bà Nguyễn Thị Hồng G thống nhất với lời trình bày của ông Đặng Văn T. Ngày 25/4/2021, bà G có chứng kiến việc ông Trần Đình Đ và bà Lê Thị H ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương tại nhà ông Đ. Bà Lê Thị H cọc 200.000.000 đồng cho ông Đ, sau đó ông Đ đưa cho người môi giới là ông Lê Viễn D số tiền 45.000.000 đồng. Còn bà G và ông T (chồng bà G) nhận số tiền 38.750.000 đồng. Các bên có hẹn nhau đến ngày 03/6/2021 ra Văn phòng Công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương cho bà Lê Thị H. Nhưng đến hẹn lại không thực hiện được việc ký hợp đồng do bà bà H không đến. Ngày 04/6/2021, bà G, ông Đ, bà N và bà H1 đã làm thủ tục sang tên cho ông Trần Đình Đ đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Nay, với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H, bà Nguyễn Thị Hồng G không đồng ý do bà H2 là người không đến để ký hợp đồng và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Viễn D trình bày:
Ông Lê Viễn D thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn. Ông Lê Viễn D là người môi giới cho các bên nguyên đơn và bị đơn chuyển nhượng thửa đất số 1018, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Khi ông Đ ký hợp đồng đặt cọc với bà H thì thửa đất nêu trên vẫn đang thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà H1, ông D có nhận 45.000.000 đồng tiền môi giới từ ông Đ. Ngoài ra, ông D không có ý kiến khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Trần Đình Đ về yêu cầu phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Trần Đình Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, cụ thể: Yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng đặt cọc đã ký kết ngày 25/4/2021 giữa bà Lê Thị H và ông Trần Đình Đ; yêu cầu Toà án buộc ông Trần Đình Đ có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị H số tiền cọc là 200.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 14/8/2024, nguyên đơn bà Lê Thị H kháng cáo toàn bộ bản án; ngày 21/8/2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 15/QĐ-VKS-DS đề nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên hợp đồng đặt cọc giữa ông Trần Đình Đ và bà Lê Thị H vô hiệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, ông Đ không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1018 mà người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bà H1. Ông Đ không có giấy ủy quyền hợp pháp của bà H1 để nhận cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên việc ngày 25/4/2021, ông Đ và bà H1 giao kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu. Do hợp đồng ngày 25/4/2021 vô hiệu nên ông Đ phải có trách nhiệm trả lại cho bà H số tiền cọc đã nhận là 200.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là chưa phù hợp. Kháng cáo của bà H và quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 25/4/2021 là vô hiệu, buộc ông Đ phải trả lại cho bà H số tiền cọc đã nhận là 200.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung :
Các đương sự thống nhất xác định, ngày 25/4/2021, bà Lê Thị H, ông Trần Đình Đ có ký kết Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đối với thửa đất 1018, tờ bản đồ số 21, diện tích 584,8m², địa chỉ thửa đất: ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C7053604, số vào sổ CS07379 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2020 cho bà Nguyễn Thị Thu H1, số tiền chuyển nhượng là 2.370.000.000 đồng. Bà H đã thanh toán cho ông Đ 02 lần, lần 01 vào ngày 25/4/2021 số tiền 85.000.000 đồng, lần 02 vào ngày 26/4/2021 số tiền 115.000.000 đồng, tổng số tiền bà H đã giao cho ông Đ là 200.000.000 đồng. Trong vòng 40 ngày, kể từ ngày 25/4/2024 đến ngày 03/6/2021 hai bên sẽ ra phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà H phải thanh toán cho ông Đ số tiền 2.170.000.000 đồng. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà H cho rằng tại thời điểm ký kết hợp đồng ông Đ không phải là người đang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1018 nên không có quyền đứng ra ký kết hợp đồng đặt cọc, đồng thời đến ngày công chứng theo thỏa thuận, ông Đ cũng chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên khởi kiện yêu cầu tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 25/4/2021 giữa bà H và ông Đ vô hiệu, yêu cầu ông Đ phải trả lại cho bà H 200.000.000 đồng tiền đặt cọc và phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H đã rút lại yêu cầu phạt cọc ông Đ số tiền 200.000.000 đồng.
Ông Đ cho rằng, đến ngày ký kết hợp đồng chuyển nhượng theo thỏa thuận (ngày 03/6/2021), ông Đ đã chuẩn bị các giấy tờ, thủ tục để ký hợp đồng chuyển nhượng, chủ đất là bà H1 cũng có mặt để ký hợp đồng chuyển nhượng nhưng bà H không có mặt nên lỗi dẫn đến hợp đồng không thể giao kết là của bà H. Do đó, ông Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Xét kháng cáo của bà Lê Thị H:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng đối với ông Trần Đình Đ. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là phù hợp với Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét hiệu lực của Hợp đồng đặt cọc ngày ngày 25/4/2021 giữa bà H và ông Đ thấy rằng: tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, quyền sử dụng đất thửa 1018 đang được cấp bà Nguyễn Thị Thu H1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số vào sổ CS 073779 ngày 23/12/2020, ông Đ chỉ mới đặt cọc cho bà H1 để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 1018 theo Hợp đồng đặt cọc ngày 13/4/2021, ông Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc ông Đ ký hợp đồng đặt cọc với bà H để chuyển nhượng thửa đất 1018 là vi phạm khoản 1 Điều 168, điểm a khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, Hợp đồng đặt cọc ngày 25/4/2021 là vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với yêu cầu buộc ông Đ phải trả lại số tiền cọc là 200.000.000 đồng của bà H: Do Hợp đồng đặt cọc ngày 25/4/2021 là vô hiệu, ông Đ đã nhận 200.000.000 đồng của bà H thì phải có trách nhiệm trả lại cho bà H theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là không phù hợp; kháng cáo của bà H và kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo là có cơ sở nên được chấp nhận.
[4] Đối với số tiền 45.000.000 đồng mà ông Đ đã giao cho ông Lê Viễn D; số tiền 38.750.000 đồng mà ông Đ đã giao cho vợ chồng ông Đặng Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng G, các đương sự không tranh chấp trong vụ án này nên Tòa án không giải quyết, nếu có tranh chấp thì sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
[5] Án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H được chấp nhận nên ông Trần Đình Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.
[7] Án phí phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 123, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H; Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 15/QĐ-VKS-DS ngày 21/8/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương như sau:
2.1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Trần Đình Đ về yêu cầu phạt cọc số tiền 200.000.000 đồng.
2.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Trần Đình Đ về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 25/4/2021 giữa bà Lê Thị H và ông Trần Đình Đ là vô hiệu.
Buộc ông Trần Đình Đ phải trả lại cho cho bà Lê Thị H số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
2.3. Án phí sơ thẩm:
Hoàn trả cho bà Lê Thị H số tiền 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0044159 ngày 22/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Ông Trần Đình Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Lê Thị H số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0004148 ngày 16/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huỳnh |
Bản án số 84/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 84/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
