|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày: 13/ 02/ 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Tiến
- Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Trần Anh Tuấn – Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 91/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Hà Thành Đ; Sinh ngày: 04/10/1989; Nơi đăng ký cư trú: số nhà G H, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038089017774; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hà Hữu B, sinh năm: 1963; Con bà: Đỗ Thị T, sinh năm: 1964; Vợ Vũ Thị L ( đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2013.
Tiền án: Ngày 07/02/2023, TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/2/2024, đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/6/2006, TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng về tội “Cướp tài sản”.
Tạm giữ từ ngày 14/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 20/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 00 phút, ngày 14/10/2024 đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố T phối hợp cùng Công an phường Đ làm nhiệm vụ tại khu vực trước số nhà B H, phường Đ, thành phố T phát hiện H, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Trong quá trình kiểm tra Hà Thành Đ tự giác móc từ trong túi quần bên trái đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 09 gói nilon màu trắng, kích thước mỗi túi khoảng (3x5)cm, bên trong mỗi túi đựng 10 viên nén hình tròn màu đỏ, tổng 90 viên, Hà Thành Đ khai nhận đó là ma tuý hồng phiến Đ cất giấu với mục đích để bán cho người nghiện kiếm lời. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ tang vật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành xác minh nơi ở của bị can Hà Thành Đ, kết quả: Nơi ở thực tế của Hà Thành Đ không phải tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Hiện không xác định được nơi ở thực tế, do đó không tiến hành khám xét khẩn cấp được.
Tại bản kết luận giám định số 3917/KL-KTHS, ngày 17/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 90 viên nén hình tròn màu đỏ gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 8,328 gam, loại: Methamphetamine.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Hà Thành Đ khai nhận: Do khó khăn về kinh tế Đ nảy sinh ý định đi mua ma tuý về bán kiếm lời. Tối ngày 11/10/2024 Đ đi bộ trên đường cạnh một cánh đồng ở huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa, thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m65 mặc quần áo cộc tối màu, người này giới thiệu tên H, Đ không biết rõ nhà ở đâu. Qua nói chuyện biết Đ có nhu cầu mua ma tuý nên người đàn ông này bảo Đ đưa tiền thì sẽ bán cho, Đ đồng ý và thống nhất mua của người đàn ông này 90 viên ma tuý hồng phiến với giá 7.000.000 đồng. Khi Đ đưa 7.000.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và dẫn Đ đi bộ một đoạn khoảng 10m rồi chỉ xuống vị trí 1 viên đá ở dưới đường, Đ nhìn theo thì thấy cạnh viên đá có 01 túi nilon màu trắng có các viên ma tuý hồng phiến. Sau đó người đàn ông đi đâu thì Đ không rõ, Đ nhặt túi nilon lên kiểm đếm thì thấy bên trong có 90 viên ma tuý hồng phiến, Đ chia số ma túy trên vào 09 túi nilon, mỗi túi đựng 10 viên nhằm mục đích bán lại cho người khác với giá 1.000.000 đồng/túi hoặc bán lẻ 100.000 đồng/viên, nhưng chưa bán được. Đến tối ngày 14/10/2024, Đ đem toàn bộ số ma tuý mua được trước đó cất giấu trong túi quần bên trái, đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết xuống thành phố T. Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày khi Đ đang đứng trước số nhà B H, phường Đ, thành phố T chờ xem có người nào hỏi mua ma túy để bán kiếm lời, thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện, bắt giữ .
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hà Thành Đ vào tối ngày 11/10/2024 tại khu vực cánh đồng huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Do Đ không biết rõ tên, địa chỉ của người này, việc mua bán ma túy giữa Đ và người này là trực tiếp, không liên lạc trước, không có thêm ai khác biết. Ngoài lời khai của Đ thì không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xác định, xử lý.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 Phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T1, Lưu Bình N, Bùi Xuân C và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật .
Lời khai nhận tội của Hà Thành Đ hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 29/CT– VKSTPTH ngày 09/ 01/ 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố Hà Thành Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- - Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị: Từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện VKS.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.
[ 2] Về hành vi phạm tội:
Hồi 22 giờ 00 phút ngày 14/10/2024, tại khu vực trước số nhà B H, phường Đ, thành phố T. Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T bắt quả tang Hà Thành Đ đang cất giấu trong người 90 viên ma tuý hồng phiến, có tổng khối lượng 8,328 gam, loại: Methamphetamine với mục đích bán cho người khác kiếm lời.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của bị Hà Thành Đ có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Tội danh và khung hình phạt được quy định tại Điểm i Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa, truy tố bị cáo Hà Thành Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại Điểm i Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, ảnh hưởng trật tự xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.
[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội khi chưa được xoá ántích của bản án hình sự sơ thẩm số 83/2023/ HSST, ngày 07/02/2023, TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa là thuộc trường hợp “ Tái phạm”. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5]. Về vật chứng:
Đối với 01 phong bì ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó cần áp dụng Khoản 1, Đ1 a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Khoản 1, Đ1 a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Đ1 a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Thành Đ phạm tội“ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Hà Thành Đ 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2024( ngày tạm giữ ).
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong có dấu của Phòng K Công an tỉnh T, kèm theo chữ ký, chữ viết của Lê Minh T1, Bùi Xuân C, Lưu Bình N.
Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 46/2025/THA ngày 15/ 01/2025 giữa Công an với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Về án phí: Bị cáo Hà Thành Đ phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN 1. Ông Phạm Văn Tiến 2. Bà Nguyễn Thị H2 |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hương |
Bản án số 84/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 84/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thành Đ
