|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2024
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân
Ông Phạm Ngọc Diện
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 388/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị T, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị đơn: anh Thái Doãn T1, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(chị T, anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Chị và anh Thái Doãn T1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2010 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2010 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng diễn ra hòa thuận có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nhưng vẫn giải quyết được, tuy nhiên từ năm 2014 thì cuộc sống vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, quan điểm làm ăn, kinh tế. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm, cho nhau cơ hội để sửa chữa nhưng không được. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thái Doãn T1 vì vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Về con chung: chị T xác định vợ chồng có một con chung là Thái Doãn B, sinh ngày 18/4/2011. Khi ly hôn chị T đề nghị giao con cho anh Trung trực T2 chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: chị T xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra chị T không còn yêu cầu nào khác.
Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Thái Doãn T1 trình bày: anh và chị Trần Thị T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2014 thì xảy ra bất hòa nên vợ chồng đã tự sống ly thân cho đến nay, nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn. Về con chung: anh T1 xác định vợ chồng có một con chung là Thái Doãn B, sinh ngày 18/4/2011, khi ly hôn anh T1 yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: anh T1 xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra anh Thái Doãn T1 không còn yêu cầu gì khác.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải thì chị Trần Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình còn anh T1 vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do bận công việc nên chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị T. Về con chung: giao con chung là Thái Doãn B, sinh ngày 18/4/2011 cho anh Thái Doãn Trung trực T2 chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con, chị Trần Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 xác định không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí, buộc chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Trần Thị T và bị đơn anh Thái Doãn T1 vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 31/3/2010. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị Trần Thị T làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị T và anh T1 phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên thường xảy ra bất hòa. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên vợ chồng đã tự sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay và không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh T1 đã trầm trọng kéo dài không còn khả năng cải thiện do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trần Thị T, xử cho chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 có một con chung là Thái Doãn B, sinh ngày 18/4/2011. Khi ly hôn chị T đề nghị giao con cho anh Trung trực T2 chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cháu B vẫn do anh T1 chăm sóc nuôi dưỡng, bên cạnh đó cháu B là con trai và có nguyện vọng sống với cha. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện học tập và sinh hoạt ổn định của cháu B, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình, giao con chung là Thái Doãn B, sinh ngày 18/4/2011 cho anh Thái Doãn Trung trực T2 chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng nuôi con do anh T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 cùng xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc chị Trần Thị T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn ly hôn của chị Trần Thị T, xử cho chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 được ly hôn.
- Về con chung: giao con chung là Thái Doãn B, sinh ngày 18/4/2011 cho anh Thái Doãn Trung trực T2 chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Chị Trần Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: chị Trần Thị T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trần Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005202 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị Trần Thị T đã nộp đủ án phí.
Chị Trần Thị T và anh Thái Doãn T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sơn Linh |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Trần Thị T và bị đơn anh Thái Doãn T1
