|
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 26 -11 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN- THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Anh và ông Lê Kim Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Thanh Hóa, Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Quang H
- Sinh ngày 07 tháng 9 năm 2002, nơi sinh: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Quang H1 và bà Nguyễn Thị O; sống chung với chị Phạm Thị H2 (Chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con chung; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 27/9/2023 đến nay. Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001
- Địa chỉ: Thôn E, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000
- Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
- + Chị Lê Thị Thanh H3, sinh năm 2002
- Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- + Chị Trịnh Thị Ngọc A, sinh năm 2003
- Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- + Anh Đỗ Đình T1, sinh năm 1999
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/9/2023, Tổ công tác Công an xã D, huyện T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T tuần tra, kiểm soát tại khu vực thôn Â, xã D, huyện T, phát hiện Hà Quang H có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra thì H bỏ chạy và vứt xuống đường 01 gói giấy bạc. H chạy được khoảng 10m thì bị Tổ công tác bắt giữ. Tiến hành làm việc, H khai nhận gói giấy bạc vứt trong quá trình bỏ chạy là ma túy hồng phiến. Kiểm tra gói giấy bạc, Tổ công tác phát hiện bên trong có chứa 01 gói nilon màu trắng, có mép dính màu đỏ, bên trong túi nilon có chứa 09 chín viên hồng phiến. Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Quang H ở tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, Cơ quan điều tra không thu giữ gì liên quan đến hành vi phạm tội của H.
Quá trình điều tra, Hà Quang H khai nhận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 27/09/2023, Đ điện thoại cho H nói lên nhà Đ trở Đ đi cắt tóc. H đi xe máy (xe của bà Nguyễn Thị O mẹ H) lên nhà anh Đ, do điện thoại H hết pin nên H mượn điện thoại của Đ chơi game thì Đ đồng ý. H trở Đ đến quán cắt tóc của anh Nguyễn Văn T ở xã D, huyện T để cắt tóc. Tại quán cắt tóc nhà T, T cắt tóc cho Đ, còn H tháo sim từ điện thoại của mình lắp vào điện thoại của Đ để gọi điện cho số điện thoại có đuôi 586 hỏi mua ma túy. H xin số điện thoại của bán ma túy từ bạn bè nên không biết tên và chưa gặp người này. Sau đó số điện thoại này gửi số tài khoản để H chuyển tiền mua ma túy vào điện thoại của Đ mà H đang cầm. H nhờ T chuyển số tiền 1.000.000đ vào tài khoản số điện thoại đuôi 586 đã gửi và vay của Đ 500.000đ đưa cho T, còn lại 500.000đ thì H nợ T. Sau khi T chuyển khoản xong thì H nhờ Đ chở H ra khu vực nhà nghỉ L1 để lấy ma túy. Do H chỉ nói với Đ là chở H đến nhà nghỉ L1 có việc nên Đ không biết H đi lấy ma túy. Khi Đ chở H đến khu vực gần nhà nghỉ L1 thì H xuống xe nhặt ma túy, khi vừa cầm được gói ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, H đã bỏ chạy và ném 02 điện thoại của H và của Đ xuống mương nước và ném ma túy xuống đường. H chạy khoảng 10m thì bị lực lượng Công an bắt giữ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ khai: Khoảng 19 giờ ngày 27/09/2023 Đ có gọi điện cho Hà Quang H nhờ trở Đ lên nhà Nguyễn Văn T ở xã D để cắt tóc. H đi xe máy lên nhà Đ. H mượn điện thoại của Đ nên Đ đã đưa điện thoại của Đ cho H cầm. Sau đó, H chở Đ lên nhà T để cắt tóc. Khi lên nhà T thì T cắt tóc cho Đ, còn H không cắt tóc. Sau khi cắt tóc cho Đ xong thì H và T có nói chuyện với nhau còn nói chuyện gì thì Đ không rõ. Sau đó, H vay Đ 500.000đ để trả cho T, còn trả tiền gì thì Đ không rõ. Lúc sau, do Đ đang cầm chìa khóa xe của H nên H nói Đ chở ra khu vực nhà nghỉ L1 có việc còn việc gì H không nói và Đ cũng không hỏi nên không biết H đi ra để lấy ma túy. Khi đến khu vực gần nhà nghỉ L1 thuộc thôn Â, Dân L, T thì H xuống xe. Khi H xuống xe được khoảng một phút thì Đ thấy có 07 - 08 người truy đuổi H, do sợ bị đánh nên Đ đã phóng xe đi về, sau đó trả xe cho nhà H. Đến khi Cơ quan Công an triệu tập Đ lên làm việc thì Đ mới biết H bị bắt vì liên quan đến ma túy.
Nguyễn Văn T khai: Khoảng 20 giờ ngày 27/09/2023, T đang ở quán thì có Hà Quang H và Nguyễn Văn Đ đến cắt tóc. H không cắt tóc mà ngồi chơi điện thoại, còn T cắt tóc cho Đ. Sau khi cắt tóc cho Đ xong thì H có nhờ T chuyển khoản số tiền 1.000.000đ vào tài khoản ngân hàng mang tên Ngọc A. Sau khi chuyển tiền xong thì H có nói Đ đưa cho T 500.000đ và nợ lại 500.000đ. Sau đó thì Đ và H đi về còn đi đâu thì T không rõ.
Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với chị Trịnh Thị Ngọc A là người có tên tài khoản: "NGỌC ANH", số tài khoản 9023141444 của Ngân hàng V mà H đã cung cấp cho T để chuyển tiền. Chị Ngọc A khai không sử dụng số tài khoản nêu trên, không sử dụng số điện thoại có đuôi 586 hay số điện thoại nào khác liên quan đến hành vi của các đối tượng. Khoảng tháng 7/2023, chị Ngọc A có xuống Ngân hàng V tại đường L, thành phố T để làm thủ tục khoá tài khoản và cán bộ ngân hàng có đưa một số giấy tờ để chị Ngọc A ký, tuy nhiên chị không nhớ chính xác nội dung những giấy tờ này.
Xác minh thông tin chủ sở hữu số thuê bao 0879985586, Cơ quan CSĐT Công an huyện T xác định được số điện thuê bao mang tên Đỗ Đình T1 sinh năm 1999 ở thôn H, xã X, huyện T (nay là Tổ dân phố H, thị trấn L, huyện T). Tiến hành làm việc với Đỗ Đình T1 và gia đình, anh T1 và gia đình khẳng định anh T1 không dùng số điện thoại nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định để xác định chất ma túy, loại ma túy, khối lượng ma túy đã thu giữ được. Tại Bản kết luận giám định số 3504/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: 09 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,908g loại Methamphetamine.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với các điện thoại thu giữ trong quá trình điều tra. Tại bản Kết luận giám định số 255/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 01 điện thoại đi động Iphone màu trắng: Không khai thác được dữ liệu trong điện thoại do hiện tại điện thoại không khởi động được; 01 điện thoại di động Samung A22 màu đen và 01 điện thoại di động iTel màu xám: Không tìm thấy dữ liệu trong điện thoại.
Về vật chứng, tài liệu thu giữ, xử lý vật chứng:
- - 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ1, Lưu Bình N, Vũ Thanh D và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,709g Methamphetamine còn lại sau giám định phát hành ngày 03/10/2023.
- - 01 phong bì màu trắng niêm phong có chữ ký của Nguyễn Đăng Đ2, Vũ Thanh D. Bên trong có 3 điện thoại: 01 điện thoại đi động Iphone màu trắng, 01 điện thoại di động Samung A22 màu đen; 01 điện thoại di động iTel màu xám.
Về người bán ma túy cho Hà Quang H, quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người bán ma túy cho H là ai. Đối với anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn T, chị Trịnh Thị Ngọc A và anh Đỗ Đình T1 không đủ cơ sở để xác định có liên quan đến hành vi phạm tội của Hà Quang H.
Đối với xe máy HONDA Winner X biển kiểm soát 36B8-359.27 H sử dụng đi mua ma túy là của bà Nguyễn Thị O mẹ đẻ của H. Bà O không biết H sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ, xử lý xe máy trên là đúng quy định.
Bản cáo trạng số 46/CT-VKS-TS ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố bị cáo Hà Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Ngày 17/6/2024, Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn ban hành Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 02/2024/HSST-QĐ để trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn điều tra làm rõ vai trò của: Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Đỗ Đình T1 trong vụ án; Thu giữ chi tiết lịch sử liên lạc thoại và SMS, địa chỉ trạm BTS của số thuê bao 0879985586 (Đỗ Đình T1), số thuê bao 0382.658.538 (H) từ ngày 25/9/2023 đến ngày 27/9/2023; Điều tra làm rõ nguyên nhân điện thoại thu giữ của Hà Quang H, Nguyễn Văn Đ bị hư hỏng; địa điểm, thời gian thu giữ điện thoại.
Sau khi có kết quả điều tra bổ sung, ngày 08/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn ban hành văn bản số 1231/VKS-TS về việc giữ nguyên quan điểm truy tố tại Bản cáo trạng số 46/CT-VKS-TS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với Hà Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, 38BLHS xử phạt Hà Quang H từ 18 tháng đến 24 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Áp dụng: Khoản 1 Điều 47BLHS, Khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, trả lại 01 điện thoại di động Samung A22 cho Nguyễn Văn T, 01 điện thoại đi động Iphone màu trắng cho Nguyễn Văn Đ; tịch thu phát mại 01 điện thoại di động iTel màu xám của Hà Quang H.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Quang H khai nhận hành vi phạm tội như trên, không có ý kiến gì tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Gia đình bị cáo Hà Quang H thuộc hộ nghèo năm 2024. Tòa án đã giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo. Bị cáo có đơn từ chối mời trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo, do đó các cơ quan tiến hành tố tụng dừng chỉ định người bào chữa cho bị cáo Hà Quang H.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Quang H khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu được, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 27/9/2023, Tổ công tác Công an xã D, huyện T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T tuần tra, kiểm soát tại khu vực thôn Â, xã D, huyện T bắt quả tang Hà Quang H tàng trữ 09 chín viên hồng phiến khối lượng 0,908g Methamphetamine mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Hành vi của Hà Quang H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Bản Cáo trạng và lời Luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố hành vi của bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Hà Quang H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn mua ma túy với khối lượng 0,908g Methamphetamine để sử dụng, không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế, nhân cách con người mà còn là một tệ nạn xã hội cần phải ngăn chặn. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình đó là thành khẩn khai báo, có bác là ông Hà Quang L hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có bố và chị gái bị tàn tật đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội, gia đình thuộc hộ nghèo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nhưng là đối tượng sử dụng ma túy.
Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để lên mức hình phạt phù hợp cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng đối với tội phạm về ma túy cần phải xử nghiêm minh và bị cáo còn là đối tượng sử dụng ma tuý nên cần phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn Đ không biết H mua ma túy để tàng trữ sử dụng nên trả lại 01 điện thoại đi động Iphone màu trắng anh Đ, 01 điện thoại di động Samung A22 màu đen cho anh T.
Tại phiên tòa, bị cáo không yêu cầu trả lại điện thoại di động iTel màu xám mà đề nghị nộp cho nhà nước nên tịch thu 01 điện thoại di động iTel màu xám của Hà Quang H phát mại nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nhưng tại phiên toà bị cáo trình bày và đề nghị bị cáo thuộc hộ nghèo xin miễn tiền án phí cho bị cáo. Xét gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo năm 2024 theo giấy chứng nhận hộ nghèo số 13/GCN-HN-HCN ngày 30/12/2022 của UBND thị trấn T, do đó áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: H (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 27/9/2023).
[2]. Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 2 và khoản 3 Điều 106, các Điều 331, 333 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; trả lại 01 điện thoại đi động Iphone màu trắng kèm theo 01 sim có ghi: 8984048000918834427 cho anh Nguyễn Văn Đ, 01 điện thoại di động Samung A22 màu đen kèm theo 02 sim có ghi: 89840200011446694927 và 8984048000320440429 cho anh Nguyễn Văn T; tịch thu 01 điện thoại di động iTel màu xám của Hà Quang H kèm 02 sim có ghi: 8984048000319878580 và 89840200011439423979 phát mại nộp ngân sách nhà nước.
(Có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn số 56/VC/2024 ngày 12/8/2024).
Về án phí: Miễn toàn bộ số tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy Hà Quang Huy
