Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/DS-ST

Ngày: 15-11-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng, bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 126/2024/QÐST-DS ngày 28/10/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1982 (Có mặt)

Nơi cư trú: Số nhà B, đường T, tổ dân phố số D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1994 (Vắng mặt, không có lý do)

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Duy T1, sinh năm 1986

Nơi cư trú: Số nhà B, đường T, tổ dân phố số D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 11 tháng 6 năm 2024, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Tháng 6 năm 2022, vợ chồng chị có vay 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) để đầu tư đất tại khu H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Nhưng do không đầu tư nên vợ chồng chị có cho anh Hoàng Văn T, sinh năm 1994, cư trú tại thôn T, xã T, thành phố B vay bằng hình thức chuyển khoản và đưa tiền mặt (chuyển khoản ngày 16/6/2022 số tiền là 1.000.000.000 đồng, đưa tiền mặt ngày 20/6/2022 số tiền là 500.000.000 đồng). Việc cho anh Hoàng Văn T vay tiền do chị trực tiếp đứng ra thực hiện các giao dịch nhưng do tin tưởng lẫn nhau nên không viết giấy tờ gì kèm theo. Khi vay tiền của chị thì anh T có nói: Anh T đang làm thủ tục vay tiền ngân hàng nên chỉ vay khoảng 10 ngày sẽ trả lại. Tuy nhiên sau rất nhiều lần đòi, đến ngày 02/10/2022 anh T mới chuyển trả chị 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) và đến ngày 24/10/2022, anh T chuyển trả thêm cho chị 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản. Đến nay anh T còn nợ vợ chồng chị số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), chị đã gọi điện thoại, nhắn tin cũng như gặp anh T nhiều lần để đòi nhưng anh T vẫn không trả.

Ngày 18/02/2024, chị có gửi đơn đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B để được giải quyết, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành làm việc với anh Hoàng Văn T. Tuy nhiên đến ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã có Phiếu hướng dẫn số 81/PHD-VPCQCSĐT hướng dẫn chị gửi đơn đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được giải quyết. Nay chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh Hoàng Văn T phải trả vợ chồng chị số tiền vay còn lại là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), chị không yêu cầu trả lãi.

* Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Duy T1 trình bày:

Tháng 6 năm 2022, vợ chồng anh có cho anh Hoàng Văn T sinh năm 1994, cư trú tại thôn T, xã T, thành phố B vay 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) để đầu tư đất tại khu H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Số tiền trên là tài sản chung của vợ chồng anh. Việc cho anh Hoàng Văn T vay do vợ anh là chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp đứng ra thực hiện các giao dịch nhưng do tin tưởng lẫn nhau nên vợ anh và anh Hoàng Văn T không viết giấy tờ gì kèm theo. Đến ngày 02/10/2022 anh T chuyển trả cho vợ chồng anh 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) và đến ngày 24/10/2022, anh T chuyển trả thêm cho vợ chồng anh 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản. Đến nay anh T còn nợ vợ chồng anh số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), vợ chồng anh đã gọi điện thoại, nhắn tin cũng như gặp anh T nhiều lần để đòi nhưng anh T vẫn không trả. Ngày 18/02/2024, vợ anh có gửi đơn đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B để được giải quyết, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành làm việc với anh Hoàng Văn T. Tuy nhiên đến ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã có Phiếu hướng dẫn số 81/PHD-VPCQCSĐT hướng dẫn vợ chồng anh gửi đơn đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được giải quyết. Nay chị H khởi kiện yêu cầu anh T phải trả vợ chồng anh số tiền nợ còn lại 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), anh nhất trí. Đề nghị Toà án giải quyết buộc anh T phải trả cho vợ chồng anh số tiền này.

* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ khi Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B làm việc với anh Hoàng Văn T để có căn cứ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 29/7/2024 Tòa án ban hành văn bản số 805/TA yêu cầu Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B cung cấp tài liệu chứng cứ. Ngày 09/8/2024 Tòa án nhận được tài liệu do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B cung cấp.

* Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy báo làm việc, quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ cho bị đơn anh Hoàng Văn T. Tuy nhiên anh T không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc theo giấy báo.

* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và mở phiên hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt tại phiên họp, không ai có ý kiến gì.

* Tại phiên tòa ngày 28 tháng 10 năm 2024, do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa

* Tại phiên toà hôm nay:

- Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Nguyên đơn trình bày: Chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án tuyên buộc anh Hoàng Văn T phải trả vợ chồng chị (chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Văn T) số tiền 500.000.000 đồng. Chị không có yêu cầu gì khác.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H: Buộc bị đơn anh Hoàng Văn T trả nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Duy T1 số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng)

2. Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật

4. Kiến nghị, khắc phục: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự cụ thể là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả nguyên đơn (Nguyễn Thị Thu H) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Ngô Duy T1) số tiền vay 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng):

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bị đơn tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B ngày 09/3/2024, lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, có căn cứ xác định tháng 6 năm 2022 chị H và anh T1 cho anh T vay số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ, năm trăm triệu đồng), trong đó cho vay bằng hình thức chuyển khoản số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), cho vay bằng hình thức đưa tiền mặt là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Khi cho nhau vay tiền do tin tưởng nên hai bên không viết giấy vay tiền. Chị H, anh T1 xác nhận ngày 02/10/2022 anh T đã trả 500.000.000 đồng, ngày 24/10/2022 anh T trả 500.000.000 đồng. Đến nay còn nợ 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).

Tại biên bản ghi lời khai ngày 09/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B, anh T khai “Vào khoảng tháng 6/2022 tôi có vay của chị H 1.500.000.000 đồng với lãi suất theo ngân hàng N. Sau khi vay tiền đến tháng 10/2022 tôi đã thanh toán, trả cho chị H số tiền gốc là 1.000.000.000 đồng, số tiền còn lại 500.000.000 đồng đến nay do chưa có tiền nên tôi chưa thanh toán trả được cho chị H. Việc tôi vay mượn tiền chị H là có thật, tuy nhiên tôi không chiếm đoạt số tiền của chị H. Tôi đề nghị Cơ quan Điều tra làm rõ nội dung vụ việc để xử lý theo quy định của pháp luật. Tôi sẽ thanh toán, trả cho chị H số tiền còn lại mà tôi đã vay của chị H. Tôi xin cam đoan toàn bộ lời khai của tôi là đúng sự thật nếu sai tôi sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, tôi không bị ai đánh đập, đe dọa hay bắt ép phải khai”. Ngoài lời trình bày trên tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, mặc dù anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T không nộp văn bản ý kiến và cũng không đến Tòa án làm việc để trình bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy có căn cứ xác định, anh T vay vợ chồng chị H, anh T1 số tiền 1.500.000.000 đồng. Sau khi chị H và anh T1 đòi tiền thì anh T đã trả được 1.000.000.000 đồng vào tháng 10/2022, còn nợ 500.000.000 đồng từ tháng 10/2022 đến nay chưa trả mặc dù chị H và anh T1 đã liên tục đòi tiền. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của chị H về việc buộc anh T trả số tiền vay 500.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận.

[3] Về lãi suất chậm thi hành án: Do các bên không tự thỏa thuận về lãi suất chậm thi hành án nên áp dụng khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để tuyên phần lãi suất chậm thi hành án.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[6]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 272 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H: Buộc bị đơn anh Hoàng Văn T phải trả nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Duy T1 số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
  2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải trả cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả chị Nguyễn Thị Thu H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí Toà án số 0001839 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Hoàng Văn T và anh Ngô Duy T1 vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 84/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger