Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỸ HÀO

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HSST.

Ngày: 27/09/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Xuân Hùng.
  • 2. Ông Nguyễn Xuân Khải.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hiền Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 27/09/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:79/2024/TLST-HS ngày 06/09/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:78/2024/QĐXXST-HS ngày 09/09/2024 đối với bị cáo:

* Phạm Ngọc T, sinh năm 1990, tại xã N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:Thôn H, xã N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên;Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;Họ và tên bố: Phạm Ngọc T1, sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; Có vợ: Phạm Thị Hương N, sinh năm 1994 và có 02con.

Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 13/7/2021 bị Ủy ban nhân dân xã N quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 3 tháng.

Bị cáo Phạm Ngọc T2 tạm giữ từ ngày 01/06/2024, đến ngày 07/06/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

  • -Chị Trương Thị T3, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968 (Có mặt).
  • Đều có địa chỉ: Thôn H, xã N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
  • - Chị Phạm Thị Trà M, sinh năm 2003 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc Tân sinh năm 1990 nơi ở thôn H, xã N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên là đối tượng nghiện chất ma túy, loại Heroine. T tự khai: Khoảng hơn 09 giờ ngày 01/6/2024, T đi bộ từ nhà ra khu vực cổng trường Trung học cơ sở xã N, ở thôn H, xã N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên tìm mua ma túy để sử dụng. Khi ra đến nơi, T gặp một nam thanh niên khoảng 40 tuổi (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang ngồi trên xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu xanh không gắn biển số. T hỏi mua ma túy loại Heroine thì nam thanh niên đồng ý. T đưa cho người này 100.000đ(Một trăm nghìn đồng), nam thanh niên cầm tiền và chỉ tay về phía một kiêu gạch trên vỉa hè gần cổng trường bảo Tân tự đi lấy ma túy đã được để sẵn ở đó. T đi đến vị trí kiêu gạch nhìn thấy có 01 túi nilon (loại vỏ đựng xi lanh) được cài ở khe giữa các kiêu gạch. T cầm lên kiểm tra thì thấy: Bên trong có 01 xi lanh chưa qua sử dụng và 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ ngang, chứa chất màu trắng dạng cục, bột. T biết là ma túy nên cầm gói nilon trên cất vào trong cạp quần phía trước bụng. Lúc này, người bán ma túy điều khiển xe mô tô rời đi. T đi bộ vào thôn H để tìm nơi vắng vẻ để sử dụng ma túy.

Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực cổng thôn H, xã N, thị xã M thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phối hợp với Công an xã N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: T4 tại vị trí bên trong cạp quần phía trước của T 01 túi nilon (loại vỏ đựng xi lanh) bên trong túi có 01 xi lanh chưa qua sử dụng và 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, bột (niêm phong ký hiệu A).

Ngày 01/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Ngọc Tântạithôn Hòe L, xã N, thị xã M. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Kết quả xét nghiệm sinh hóa xác định Tân âm tính với H1.

Tại bản thông báo kết giám định sơ bộ số 386/KL-KTHS(MT) ngày 01/6/2024 và bản kết luận giám định số 386/KL-KTHS(MT) ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu A, có khối lượng là 0,217g (Không phẩy hai một bẩy gam) là ma túy, loại Heroine (H)có tên khoa học D được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. H2 lại mẫu giám định bên trong có 0,206g (Không phẩy hai không sáu gam) ma túy Heroine được niêm phong giao cho Công an thị xã M quản lý.

Đối với 01 túi nilon bên trong có 01 xi lanh chưa qua sử dụng, hiện Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý.

Quá trình điều tra bị cáoPhạm Ngọc T5 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, T5 còn khai: Lần gần nhất T5 sử dụng ma túy vào khoảng ngày 18/5/2024 tại nhà ở thôn H, xã N. Tuy nhiên ngoài lời khai của T5 không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên chưa có căn cứ xử lý đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T5.

Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSMH ngày 06/09/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểmc khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Vắng mặt người làm chứng là chị Trương Thị T3, chị Phạm Thị Trà M.

Bị cáo Phạm Ngọc T6 Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục phiên toà xét xử vụ án vì những người vắng mặt đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

Bị cáoPhạm Ngọc T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc T và đề nghị với Hội đồng xét xử:

  • * Căn cứ vào: Điểm c khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • * Xử phạt: Bị cáoPhạm Ngọc T7 01 năm 09 thángđến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/06/2024.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Tịch thu, tiêu hủy:01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 386/KL-KTHS (MT)của phòng K Công an tỉnh H, bên trong có 0.206g(Không phẩy hai không sáu gam) ma túy loại Heroinetrong niêm phong ghi ký hiệu “A”; 01 (Một) mảnh giấy gói ma túy; 01 (Một) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (Một) túi nilon là vỏ đựng xi lanh bên trong có 01 xi lanh chưa qua sử dụng.
  • * Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy địnhcủa pháp luật.

Bị cáoPhạm Ngọc T8 tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M, Điều tra viên, kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hàotrong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

2- Lời khai nhận của bị cáo Phạm Ngọc T9 quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của người chứng kiến,biên bản vụ việc, biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ, bản ảnh, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: "Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, tại cổng làng thôn H, xã N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Phạm Ngọc T10 trữ trái phép0,217g (Không phẩy hai một bảy gam) Heroine để sử dụng, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phối hợp cùng Công an xã N phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng”.Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc T11 tội "Tàng trữtrái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

3- Bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý được luật hình sự bảo vệ, bị cáo sử dụng ma túy nên biết rõ tác hại của ma tuý không những gây cảnh nghiện ngập, làm cho gia đình kinh tế kiệt quệ, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh các vụ phạm pháp hình sự, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân lây nhiễm các căn bệnh xã hội, nhưng chỉ vì ham chơi, thích hưởng thụ, thường xuyên có nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên đã đã đi mua rồi cất giấu ma tuý và dụng cụ để sử dụng ma tuý nhằm mục đích thoả mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo đã phạm tội.Hơn nữa bị cáo là người có nhân thân xấu:Ngày 13/7/2021bị Ủy ban nhân dân xã N quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 03(Ba) tháng.Chính vì vậy, cần phải áp dụng nghiêm hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện, nhằm tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và làm bài học cho các hành vi khác tương tự có thể xẩy ra.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử cũng xem xét đến trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà:Bị cáo không có tình tiết tăng tặng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho T ngày 01/6/2024 như T khai.Quá trình điều tra, ngoài lời khai của T không còn tài liệu, chứng cứ gì khác để làm rõ lai lịch, địa chỉ của người thanh niên trên nên chưa đủ căn cứ để xử lý, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

4- Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định bị cáo Phạm Ngọc T không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, hiện tại đang bị giam giữ nên hội đồng xét xử sẽ miễn, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

5- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01(Một)phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 386/KL-KTHS (MT) của phòng K Công an tỉnh H, bên trong có 0.206g(Không phẩy hai không sáu gam) ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu “A”; 01 (Một) mảnh giấy gói ma túy; 01 (Một) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Đây là những vật và vật chứng cấm lưu hành, đã sử dụng vào việc phạm tội trong vụ án nên sẽ cho tịch thu tiêu hủy theo quy định.
  • +Đối với 01 (Một) túi nilon là vỏ đựng xi lanh bên trong có 01 xi lanh chưa qua sử dụng. Đây là vật sử dụng vào việc phạm tội trong vụ án nên sẽ cho tịch thu tiêu hủy theo quy định.

6- Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • * Xử phạt: Bị cáoPhạm Ngọc T5 01 (Một) năm 09(Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/06/2024.
  • * Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Tịch thu, tiêu huỷ:01(Một)phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 386/KL-KTHS (MT)của phòng K Công an tỉnh H, bên trong có 0.206g(Không phẩy hai không sáu gam) ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu “A”; 01 (Một) mảnh giấy gói ma túy; 01 (Một) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (Một) túi nilon là vỏ đựng xi lanh bên trong có 01 xi lanh chưa qua sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 66/QĐ-VKSMH ngày 06/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào và biên bản

giao nhận vật chứng ngày 09/09/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào).

  • + Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • + Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Tòa đã báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhân:

  • - VKSND thị xã Mỹ Hào;
  • - Cơ quan CSĐT-CA thị xãMỹ Hào;
  • - Cơ quan T.H.AHS-CA thị xã Mỹ Hào;
  • - Chi cục T.H.A DS thị xã Mỹ Hào;
  • - Phòng KTNV và T.H.A - Tòa án tỉnh Hưng Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trương Thế Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 84/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger