Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS - ST

Ngày: 17-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Chu Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Minh

Bà Vũ Thị Linh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1971 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Số nhà G, đường T, khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Con ông Nguyễn Đức T và bà Đặng Thị L1; có vợ: Lê Thị T1(đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2005. Tiền án:

Bản án số 462017/HS-ST ngày 18/7/2017 của TAND thị xã Chí Linh(nay là TAND thành phố Chí Linh) xử phạt Nguyễn Văn L 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự, phạt bổ sung 5.000.000đồng. Lượng đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2020, chấp hành xong án phí hình sự, tiền phạt bổ sung ngày 14/11/2023, chưa nộp tiền lãi suất chậm thi hành án.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

- Bản án số 57/2013/HS-ST ngày 05/8/2013 của TAND tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn L 13 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nộp 400.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, phạt bổ sung 3.000.000đồng. Lượng đã chấp hành xong hình phạt ngày 06/9/2015, chấp hành xong án phí hình sự, hình phạt bổ sung ngày 30/9/2014.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30 ngày 26/01/2011 của Công an thị xã C đối với Nguyễn Văn L về hành vi “đánh bạc trái phép”, hình thức phạt tiền: 1.000.000đồng, L đã chấp hành xong ngày 02/3/2024.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 08/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

* Những người làm chứng:

  1. Anh Trương Quang L2, sinh năm 1995. Vắng mặt.
  2. Anh Hoàng Anh T2, sinh năm 1988. Vắng mặt
  3. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1960. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 02/5/2024, Nguyễn Văn L đi xe khách từ nhà trọ thuê của bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1960 trú tại số nhà G, đường T, KDC N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương đến khu vực cầu B thuộc thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh gặp và mua 3.000.000đồng tiền ma tuý của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 06 túi ni lông ma tuý gồm: 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ, bên trong chứa 03 viên nén màu hồng, 03 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh bên trong tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu trắng đục bên trong chứa tinh thể màu trắng. Sau khi mua được ma túy, L cất giấu các gói ma túy trong ví da màu đen, để trong phòng ngủ mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Trong thời gian từ ngày 04/5/2024 đến ngày 05/5/2024, L đã thực hiện 02 hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04/5/2024, Trương Quang L2, sinh năm 1995 trú tại khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương có nhu cầu mua ma túy về sử dụng nên đã nhờ Đinh Hồng P, sinh năm 1990, trú tại khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương mua hộ ma tuý. P đồng ý. L2 sử dụng tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) số 3303111995 chuyển vào tài khoản ngân hàng M số 0961668246 cho P số tiền 400.000đồng. Khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, P sử dụng tài khoản Zalo tên “Cu” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Lượng Nguyễn” của Nguyễn Văn L hỏi mua 400.000đồng tiền ma túy thì L đồng ý, sau đó P sử dụng tài khoản ngân hàng M chuyển vào tài khoản ngân hàng MB số 3880146908035 của L số tiền 400.000đồng và bảo L là Trương Quang L2 sẽ gặp trực tiếp Lượng để nhận ma túy. Sau khi nhận được tiền, L cầm 01 gói ma túy đựng trong túi ni lông, viền khóa màu xanh đi ra khu vực dải phân cách đầu đường đôi khu vực quảng trường S, thuộc khu dân cư T, phường S, thành phố C thì thấy L2 đến, L đưa cho L2 túi ni lông ma tuý rồi đi về nhà. Trương Quang L2 cầm gói ma túy về nhà sử dụng một mình hết, túi ni lông chứa ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy L2 đã vứt đi, không thu giữ được.

Khoảng 13 giờ ngày 05/5/2024, Hoàng Anh T2, sinh năm 1988, trú tại thôn Đ, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh sử dụng ứng dựng Zalo tên “Hoang Anh T4” nhắn tin vào tài khoản Z “Lượng Nguyễn” của Nguyễn Văn L để hỏi mua 400.000đồng tiền ma túy thì L đồng ý. T2 sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0341007210443 chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng MB của Nguyễn Văn L số tiền 400.000đồng. Sau khi nhận được tiền của T2, L lấy một túi ni lông ma tuý màu trắng, viền khóa màu trắng đục, dùng băng dính màu đen dán vào cạnh cửa bên trái (hướng nhìn từ ngoài vào) trước nhà số G đường T, Sau đó, L nhắn tin cho T2 nội dung “em nhìn thẳng vào nhà anh bên trái dính ở cạnh cửa ấy nhé”. Theo hướng dẫn của L, T2 đi đến nhà L lấy gói ma túy rồi đi về khu vực gầm cầu đường sắt thuộc khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương một mình sử dụng hết số ma túy này, dụng cụ sử dụng ma túy, T2 vứt đi, không thu giữ được.

Hồi 00 giờ 10 phút, ngày 06/5/2024, Nguyễn Văn L lấy 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ, bên trong túi ni lông chứa chất tỉnh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ, bên trong túi ni lông chứa 03 viên nén màu hồng 01 cho vào ví da màu đen, trên ví da có chữ PRADA, L vừa đi ra trước cửa số nhà G, đường T, KDC N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang thu giữ của Nguyễn Văn L 01 ví da màu đen, trên ví da có chữ PRADA, bên trong ví da dựng: 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (4x6,5)cm, bên trong túi ni lông chứa chất tỉnh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (4x6,5)cm, bên trong túi ni lông chứa 03 viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu 01. Lượng tự nguyện lấy từ trong phòng ngủ của mình ra 02 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước giống nhau (2x2)cm, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu 02. Nguyễn Văn L tự nguyện giao nộp số tiền 800.000đồng; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, số IMEI 35395510003956. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn L tại số nhà G, đường T, KDC N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Kết luận giám định số: 243/KL-KTHS, ngày 08/05/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận:

Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu 01, gửi đến giám định khối lượng là: 2,763gam là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định 2,689gam ma túy, loại Methamphetamine, 01 vỏ túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ và 01 phong bì ký hiệu số 01 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1.

03 (ba) viên nén hình trụ tròn màu hồng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01, gửi đến giám định tổng khối lượng là: 0,282gam là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định 0,236 gam ma túy, loại Methamphetamine, 01 vỏ túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong trong phong bì ký hiệu T1.

Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong 02 (hai) túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02, gửi đến giám định tổng khối lượng là: 0,497gam là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định 0,436gam ma túy, loại Methamphetamine; 02 vỏ túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh và 01 vỏ phong bì ký hiệu số 02 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2.

Kết quả xét nghiệm ma túy ngày 06/5/2024 của Nguyễn Văn L, Trương Quang L2, Hoàng Anh T2 đều dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 90 ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố Nguyễn Văn L về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố cáo: Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, BLHS; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 7 năm 8 tháng đến 8 năm 2 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ 06/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông.

Tịch thu tiêu hủy 2,689gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ; 0,236gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ phong bì ký hiệu số 01 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 0,436gam ma túy loại Methamphetamine, 02 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 02 vỏ phong bì ký hiệu số 02 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 ví da màu đen, có chữ PRADA, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000đồng có số seri PN20182691, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000đồng có số seri YE16380682, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đồng có số seri PK18754974.

Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng iphone 11 proMax, màu vàng nhạt, số IMEI 353955100039567, máy đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 2 sim có số seri lần lượt là 8984048000316682280, 8984048000911140035.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 02/5/2024, Nguyễn Văn L (đã có tiền án chưa được xoá án tích) mua 3.000.000đồng tiền ma tuý của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch tại khu vực cầu B thuộc thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh được 06 túi ni lông ma tuý gồm: 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ, bên trong chứa 03 viên nén màu hồng; 03 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh bên trong tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu trắng đục bên trong chứa tinh thể màu trắng với mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Trong thời gian từ ngày 04/5/2024 đến ngày 05/5/2024, L đã thực hiện 02 hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau:

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 04/5/2024, tại khu vực dải phân cách đầu đường đường đôi khu vực quảng trường S, thuộc khu dân cư T, phường S, thành phố C, Nguyễn Văn L có hành vi bán trái phép cho Trương Quang L2 01 túi nilon ma túy loại Methamphetamine đựng trong túi nilon, viền khóa màu xanh giá 400.000 đồng. Trương Quang L2 đã sử dụng hết số ma túy, không thu giữ được vật chứng.

Khoảng 13 giờ ngày 05/5/2024, tại trước cửa nhà số nhà G đường T, khu dân cư N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn L có hành vi bán trái phép cho Hoàng Anh T2 01 túi nilon ma túy loại Methamphetamine đựng trong túi nilon, viền khóa màu trắng đục giá 400.000đồng. T2 đã sử dụng hết số ma túy, không thu giữ được vật chứng.

Hồi 00 giờ 10 phút, ngày 06/5/2024, tại trước cửa số nhà G, đường T, KDC N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn L đang có hành vi cất giấu trái phép 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ bên trong chứa 2,763gam ma túy, loại Methamphetamine; 03 viên nén màu hồng (dạng viên thuốc) khối lượng 0,282gam ma túy, loại Methamphetamine; 02 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh, bên trong chứa 0,497gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời thì bị Công an thành phố C phát hiện, thu giữ.

Bị cáo L thực hiện hành vi bán ma túy cho L2 vào ngày 05/5/2024 và bán ma túy cho T2 vào ngày 06/5/2024. Hành vi phạm tội của bị cáo mỗi lần đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm mua bán trái phép chất ma túy, mỗi lần phạm tội đều chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thêm nữa, bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tái phạm tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST-TA ngày 18/7/2017 của TAND thị xã Chí Linh(nay là TAND thành phố Chí Linh), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Vì vậy đủ căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 BLHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý mua ma túy về để bán kiếm lời vào các ngày 05/5/2024, 06/5/2024.

Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ như sau: Bị cáo L bị áp dụng tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phải đi chấp hành án nhưng không lấy đó là bài học mà thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù thỏa đáng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,236gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ phong bì ký hiệu số 01 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 0,436gam mat túy loại Methamphetamine, 02 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 01 vỏ phong bì ký hiệu số 02 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 ví da màu đen, có chữ PRADA, đã qua sử dụng là vật nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy là là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với số tiền 500.000đồng, 200.000đồng, 100.000đồng là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 BLHHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 pro Max, màu vàng, đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với 02 sim số seri lần lượt là 8984048000316682280, 8984048000911140035 bị cáo L dùng vào việc vi phạm pháp luật nên cần tịch thu cho tiêu hủy và yêu cầu cầu Công ty V1 đang cung cấp dịch vụ thu hồi số thuê bao di động vi phạm pháp luật là phù hợp với điểm đ khoản 2 Điều 52 Luật Viễn thông. Đối với số tiền còn lại trong số thuê bao 84374398732, TKG: 1đồng; số thuê bao: 84975335390. TKG: 634đồng, do số tiền đều dưới 1.000đồng nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Trong vụ án, đối tượng bán ma túy cho L, không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý. Bà Nguyễn Thị T3 cho L thuê nhà ở, bà T3 không biết việc L cất giấu trái phép chất ma túy tại đó nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Trương Quang L2, Hoàng Anh T2 mục đích mua ma túy về sử dụng, đã sử dụng hết nên Công an thành phố C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với đối tượng Đinh Hồng P: Sau khi P liên lạc với Nguyễn Văn L để mua ma túy giúp L2 thì P đã đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập nhưng P vắng mặt. Số ma túy L2 nhờ P mua hộ thì L2 đã sử dụng hết. Lượng không bàn bạc, trao đổi với P về việc bán ma túy cho L2 và không được hưởng lợi từ việc mua hộ ma túy cho L2 nên cơ quan cảnh sát điều tra tách ra làm rõ, xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 7 năm 8 tháng tù, thời chấp hành án tính từ ngày tạm giữ 06/5/2024.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000đồng sung quỹ Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi Công an tỉnh H, số 243/KL-KTHS, cơ quan C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 470 ngày 06/5/2024, góc phải ký hiệu T1, mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của Phòng K Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong phong bì chứa: 2,689gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon mày trắng viền khóa màu đỏ; 0,236gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ phong bì ký hiệu số 01 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi Công an tỉnh H, số 243/KL-KTHS, cơ quan C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 470 ngày 06/5/2024, góc phải ký hiệu T2, mặt sau có 03 dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong phong bì chứa: 0,436gam ma túy loại Methamphetamine, 02 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 02 vỏ phong bì ký hiệu số 02 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 ví da màu đen, có chữ PRADA, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000đồng có số seri PN20182691, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000đồng có số seri YE16380682, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đồng có số seri PK18754974 đựng trong 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi Công an tỉnh H, số 118/KL-KTHS, mặt sau có 02 dấu đỏ giáp lai của Phòng K Công an tỉnh H và 02 chữ ký niêm phong mẫu.

Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng iphone 11 proMax, màu vàng nhạt, số IMEI 353955100039567, máy đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 2 sim có số seri lần lượt là 8984048000316682280, 8984048000911140035.

(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 30/8/2024).

Kiến nghị Tập đoàn V2 thu hồi hai số thuê bao là 0374398732; 0975335390.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đồng(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Chí Linh;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - CQĐT Công an thành phố Chí Linh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THA hình sự - Công an thành phố Chí Linh;
  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Tập đoàn viễn thông Viettel;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Thu Hương

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS - ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 84/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger