Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17 tháng 9 năm 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Công Tụ;
  2. Ông Đặng Ngọc Tân.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXX-ST ngày 14/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thu H, sinh năm 1980

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Số nhà H, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1974

Nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Ngô Thị Thu H có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N có tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 19/01/1998 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 03/2023 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh N.

Về con chung: Chị H và anh N có 03 con chung là Nguyễn Thị Hồng H1, sinh ngày 03/8/1998; Nguyễn Thị Hồng V, sinh ngày 06/9/2002; Nguyễn Văn P, sinh ngày 12/11/2012. Ly hôn chị H đề nghị cháu H1, cháu vân đã trưởng thành không đặt ra giải quyết, chị H xin nuôi cháu P và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị H không có thai nghén gì. Chị H làm nghề buôn bán thu nhập một tháng là 15.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

- Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Văn P trình bày: Cháu Nguyễn Văn P, sinh ngày 12/11/2012 là con đẻ của chị Ngô Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N. Hiện cháu P đang học lớp 7A6 trường Trung học cơ sở L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Nếu chị H, anh N ly hôn thì cháu P có nguyện vọng ở cùng chị Ngô Thị Thu H.

- Tại biên bản xác minh với gia đình anh N thể hiện: Chị Ngô Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 19/01/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống chị H, anh N có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành, hiện chị H và anh N đã sống ly thân từ tháng 03/2023 cho đến nay. Nay chị H có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị H và anh N có 03 con chung là Nguyễn Thị Hồng H1, sinh ngày 03/8/1998; Nguyễn Thị Hồng V, sinh ngày 06/9/2002; Nguyễn Văn P, sinh ngày 12/11/2012, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: Đề nghị Tòa án giải quyết theo thỏa thuận của anh, chị.

Hiện nay anh N đi lao động tự do thu nhập 16.000.000/tháng, gia đình đã thông báo cho anh N biết và anh N có quan điểm: Nếu chị H xin ly hôn thì anh N cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh N có nguyện vọng nuôi cháu P, nhưng nếu chị H có nguyện vọng nuôi cháu P và cháu P cũng có nguyện vọng ở cùng chị H thì anh N cũng đồng ý.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn V, cán bộ tư pháp xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Chị Ngô Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 19/01/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyễn nhân mâu thuẫn cơ sở không nắm rõ. Hiện nay chị H và anh N đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị H có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị H và anh N có 03 con chung, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: Ông không nắm rõ.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Ngô Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh N vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị H, anh N được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/01/1998 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03/2023 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị H đề nghị ly hôn nhưng anh N cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị được ly hôn anh N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Ngô Thị Thu H và anh Nguyễn Văn N có 03 con chung là Nguyễn Thị Hồng H1, sinh ngày 03/8/1998; Nguyễn Thị Hồng V, sinh ngày 06/9/2002; Nguyễn Văn P, sinh ngày 12/11/2012. Ly hôn Chị H, anh N đều đề nghị cháu H1, cháu V đã trưởng thành không đặt ra giải quyết. Chị H trực tiếp nuôi cháu P; anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu P cũng có nguyện vọng được ở cùng chị H. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị H là chính đáng, chị H có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Ngô Thị Thu H trực tiếp nuôi con Nguyễn Văn P, sinh ngày 12/11/2012; anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H, anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ngô Thị Thu H, anh Nguyễn Văn N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Thu H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Ngô Thị Thu H trực tiếp nuôi con Nguyễn Văn P, sinh ngày 12/11/2012; anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị Thu H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp theo Biên lai thu số 0004760 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Thu H, anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã An Đồng, huyện Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị H và anh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger