|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 16/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Trương Khánh Thành
2. Ông: Trần Quang Huyền
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lê Na - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong - Kiểm sát viên
Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Nhà văn hóa UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự đã thụ lý số: 80/2024/TLHS-ST ngày 18/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 02/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Tô Văn K, sinh ngày: 11/6/1987
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng;
Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12.
Họ tên bố: Tô Viết M (đã chết); Họ tên mẹ: Lý Thị N, sinh năm 1957.
Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình.
Có vợ: Trần Thị Lệ Q, sinh năm: 1989.
Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017)
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Họ và tên: Đặng Nhật M1, sinh ngày: 25/10/1987
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày;
Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12.
Họ tên cha: Đặng Văn V (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1948.
Có vợ: Lý Hồng Đ, sinh năm: 1987.
Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2015, con bé sinh năm 2019)
Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)
*. Người chứng kiến:
Anh: Nguyễn Quốc D, sinh năm 1969 (Vắng mặt).
Trú quán: xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:
Khoảng 11 giờ 05 phút ngày 15/4/2024, Tổ công tác của Công an xã T - huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (viết tắt: Tổ công tác) đến nhà Tô Văn K, sinh năm 1987, trú trại xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để xác minh việc Khu có hành vi đánh, chửi vợ, con. Khi Tổ công tác đến nhà thì thấy Khu cùng Đặng Nhật M1, sinh năm 1987, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu Khu và M1 dừng việc sử dụng trái phép chất ma túy, Khu và M1 đã chấp hành rồi tự nguyện giao nộp cho Tổ công tác các đồ vật gồm: 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, Khu và M1 khai đó là chất ma túy, loại Heroine của K và M1 mua về để sử dụng và một số đồ vật mà K và M1 vừa sử dụng để hít chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm:
- + 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, K và M1 khai đó là ma túy, loại Heroine mua về để sử dụng. (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A1);
- + 01 tờ giấy bạc của bao thuốc lá có 01 mặt trắng và 01 mặt màu vàng đã bị đốt cháy có kích thước 15cm x 7,5cm;
- + 01 bật lửa gas màu trắng, đỏ có kích thước 10cm x 2,5cm. (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A2).
Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Công an xã T đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng và đưa Khu, M1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 15/4/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ phối hợp cùng Phòng K2 - Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột mầu trắng trong phong bì A1 có khối lượng là 0,352 gam. (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A3 làm mẫu giám định). Giấy gói và vỏ phong bì ký hiệu A1 được niêm phong vào phong bì ký hiệu A4.
Tại bản Kết luận giám định số 543 ngày 24/4/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh T kết luận:
“Số chất bột màu trắng có trong bì niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,352 gam".
Tại cơ quan điều tra, các bị can Tô Văn K và Đặng Nhật M1 khai nhận như sau: Tô Văn K và Đặng Nhật M1 là những người nghiện chất ma túy. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, M1 đến nhà K chơi. Sau đó, K và M1 rủ nhau góp tiền mua chất ma túy về để sử dụng. M1 góp số tiền 100.000đ, Khu góp 50.000₫ được tổng số tiền là 150.000đ. Khu cầm 150.000đ đi mua ma túy còn M1 thì ở nhà chờ. Sau đó, Khu đi nhờ xe người đi đường ra khu vực tam giác Đ thuộc thị trấn H, huyện Đ gặp 01 người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi và hỏi mua ma túy thì được người đàn ông đồng ý bán, Khu đưa cho người đàn ông số tiền 150.000 đ, người đàn ông nhận tiền rồi đưa lại cho K 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy, loại Heroine. Sau khi mua ma túy xong, K đi nhờ xe của người đi đường về nhà. Sau khi về đến nhà, K lấy 01 tờ giấy bạc trong bao thuốc lá, 01 bật lửa gas và lấy một ít ma túy vừa mua được cho lên tờ giấy bạc rồi bật lửa đốt bên dưới tờ giấy bạc, khi thấy có khói thì Minh hít trước, sau đó M1 cũng tiếp tục đốt để cho Khu hít tại nền nhà Khu. Khi Khu và M1 đang sử dụng ma túy thì tổ công tác của Công an xã T tới và phát hiện, lập biên bản bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nêu trên của Tô Văn K và Đặng Nhật M1 phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong chứa 01 tờ giấy bạc của bao thuốc lá có 01 mặt trắng, 01 mặt màu vàng đã bị đốt cháy có kích thước 15cm x 7,5cm cùng 01 bật lửa gas màu trắng đỏ có kích thước 10cm x 2,5cm, đã qua sử dụng);
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 0,294 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định;
- + 01 bì niêm phong ký hiệu A4 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu, giấy gói chất ma túy thu giữ của Tô Văn K và Đặng Nhật M1.
Các vật chứng hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Tại cáo trạng số 84/ CT-VKSĐT ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Tô Văn K và Đặng Nhật M1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND huyện Đại Từ giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với hai bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tô Văn K và Đặng Nhật M1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, (khoản 2 Điều 51 đối với Khu) Điều 17 Điều 58 Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt:
Bị cáo Tô Văn K và Đặng Nhật M1 mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/4/2024.
Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho hai bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong chứa 01 tờ giấy bạc của bao thuốc lá có 01 mặt trắng, 01 mặt màu vàng đã bị đốt cháy có kích thước 15cm x 7,5cm cùng 01 bật lửa gas màu trắng đỏ có kích thước 10cm x 2,5cm, đã qua sử dụng); 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 0,294 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A4 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu, giấy gói chất ma túy thu giữ của Tô Văn K và Đặng Nhật M1.
Về án phí: Buộc hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2]. Về căn cứ buộc tội:
Tại phiên tòa bị cáo Tô Văn K và Đặng Nhật M1 khai nhận: Khoảng 11 giờ 05 phút ngày 15/4/2024, tại nhà của Tô Văn K thuộc xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tô Văn K và Đặng Nhật M1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,352 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Lời khai nhận của Tô Văn K và Đặng Nhật M1 phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định.
Như vậy hành vi tàng trữ 0,352 gam Heroine của Tô Văn K và Đặng Nhật M1 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật như sau:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm vào mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c) Heroine..... có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam.
[3]. Xét tính chất hành vi:
Xét về tính chất hành vi của hai bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của hai bị cáo đồng phạm giản đơn, cùng nhau góp tiền mua ma túy sử dụng cho bản thân. Hành vi của hai bị cáoTô Văn K1 và Đặng Nhật M1 đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng và suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy hai bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy hai bị cáo Tô Văn K, Đặng Nhật M1 được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Tô Văn K có cha đẻ là ông Tô Viết M được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 BLHS
Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên cả hai bị cáo là người nghiện ma tuý, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội nên cần xử lý nghiêm.
[5]. Về hình phạt:
Căn cứ vào tình chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của hai bị cáo: Hội đồng xét xử cần xử phạt hai bị cáo Tô Văn K và Đặng Nhật M1 mức án từ 24 đến 30 tháng tù và buộc cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Cả hai bai bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
[7]. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong chứa 01 tờ giấy bạc của bao thuốc lá có 01 mặt trắng, 01 mặt màu vàng đã bị đốt cháy có kích thước 15cm x 7,5cm cùng 01 bật lửa gas màu trắng đỏ có kích thước 10cm x 2,5cm, đã qua sử dụng); 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 0,294 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A4 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu, giấy gói chất ma túy thu giữ của Tô Văn K và Đặng Nhật M1.
[8]. Về nguồn gốc số Heroine Khu khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực tam giác thuộc thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ không có căn cứ để xem xét xử lý.
[9]. Về án phí: Hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, (khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo K) Điều 17 Điều 58 Điều 38 Điều 47 của BLHS; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Tô Văn K và Đặng Nhật M1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Tô Văn K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/4/2024.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Nhật M1 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/4/2024.
2. Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho hai bị cáo.
3. Quyết định tạm giam bị cáo Tô Văn K và Đặng Nhật M1 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
4. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong chứa 01 tờ giấy bạc của bao thuốc lá có 01 mặt trắng, 01 mặt màu vàng đã bị đốt cháy có kích thước 15cm x 7,5cm cùng 01 bật lửa gas màu trắng đỏ có kích thước 10cm x 2,5cm, đã qua sử dụng); 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 0,294 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu A4 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu, giấy gói chất ma túy thu giữ của Tô Văn K và Đặng Nhật M1.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 74/QĐ-VKSĐT ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Tô Văn K và Đặng Nhật M1 phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Kao Hoàng |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
