Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 29-05-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phú
  2. Bà Hoàng Thị Kim Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Chí Thành, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa:

Bà Lâm Như Quỳnh, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21 và 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ ngày 21/05/2024 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H; sinh năm: 1990 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Ứ, TP .; nơi ở: 407 Hương lộ C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Xuân V và bà: Nguyễn Thị L; tiền án: Ngày 05/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 143/2017/HSST), ngày 24/8/2019 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 05/9/2022 đã chấp hành xong án phí, chưa chấp hành khoản bồi thường 20.840.000 đồng (bút lục 98-107); tiền sự: Không; nhân thân: Từ nhỏ sống cùng gia đình tại xã Đ, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội, đi học đến lớp 02 thì nghỉ học phụ giúp gia đình. Tháng 02/2023, vào Thành phố Hồ Chí Minh lao động tự do; tạm giữ, tạm giam: ngày 04/01/2024.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 04 giờ 15 phút ngày 04/01/2024 tại địa chỉ số A N, Phường A, quận T, Công an P quận T kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Đỗ Văn H cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng; thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (mẫu m) trong thùng sắt được gắn trên xe ba gác máy biển số 60Y2-5329 do H điều khiển. Tại bản Kết luận giám định số 867/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận: mẫu m có khối lượng 0,1184 gam là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine (bút lục 44).

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Văn H khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 02/01/2024, H đến khu vực bãi xe trên đường B, phường S, quận T hỏi mua ma túy đá với giá 150.000 đồng và 01 nỏ thuỷ tinh với giá 15.000 đồng của một người thanh niên tên Q (chưa rõ lai lịch), rồi lấy một ít ma tuý cho vào nỏ thuỷ tinh sử dụng một mình. Sau đó, H về nhà tại địa chỉ số D Hương lộ C, phường B, quận B và cất giấu gói nylon chứa ma tuý đá còn lại trong hộp đồ nghề trên xe ba bánh biển số 60Y2-5329. Ngày 04/01/2024 tại trước địa chỉ số A N, Phường A, quận T, Đỗ Văn H điều khiển xe ba gác máy biển số 60Y2-5329 chở vật liệu xây dựng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, bắt quả tang (bút lục 72-75)

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận T đã quyết định khởi tố, điều tra đối với Đỗ Văn H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật chứng vụ án:

  • 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số 326/24 và chữ ký Giám định Phan Tấn Q1; bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định (bút lục 46).
  • 01 xe ba gác máy biển số 60Y2-5329 hiệu Yinxiang, không xác định được số khung, số máy. Đỗ Văn H khai mua xe trên không có giấy tờ. Xác minh người đăng ký biển số 60Y2-5329 xe máy Yamaha Sirius là Lê Thị Cẩm T, sinh năm: 1990, HKTT: Ấp F, xã B, L, Đồng Nai; chỗ ở 3 Đường D, TDP D, Phường B, quận B, hiện Lê Thị Cẩm T không còn cư ngụ tại địa chỉ trên.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax. IMEI 3552814380004845.

Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-TB ngày 08 tháng 04 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Đỗ Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Bình công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích nên lần phạt tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của hành vi đối với xã hội và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Đỗ Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác, vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
  2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  3. Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

    Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Đỗ Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý ở thể rắn có khối lượng 0,1184 gam, loại Methamphetamine để sử dụng. Do vậy, bị cáo Đỗ Văn H bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  4. Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

    Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua việc thẩm tra các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo, thì hành vi cất giữ trái phép ma túy có tổng khối lượng 0,1184 gam, là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo Đỗ Văn H là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra; cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống ma túy và tệ nạn tại địa phương.

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

    Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo;

  5. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

    Đối với: 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số 326/24 và chữ ký giám định viên Phan Tấn Q1; bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu, tiêu hủy.

    Đối với: 01 xe ba gác máy biển số 60Y2-5329 hiệu Yinxiang, không xác định được số khung, số máy. Đỗ Văn H khai mua xe trên không có giấy tờ. Xác minh người đăng ký biển số 60Y2-5329 xe máy Yamaha Sirius là Lê Thị Cẩm T, sinh năm: 1990, HKTT: Ấp F, xã B, L, Đồng Nai; chỗ ở 3 Đường D, TDP D, Phường B, quận B, hiện Lê Thị Cẩm T không còn cư ngụ tại địa chỉ trên, cần phải giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời gian 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước

    Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax. IMEI 3552814380004845 thu giữ của bị cáo, xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 86/BB/2024 ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

  6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số 326/24 và chữ ký giám định viên Phan Tấn Q1; bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu, tiêu hủy.
    • Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu xe ba gác máy biển số 60Y2-5329 hiệu Yinxiang, không xác định được số khung, số máy; biển số đăng ký 60Y2-5329 xe máy Yamaha Sirius của bà Lê Thị Cẩm T, sinh năm 1990, HKTT Ấp 6, xã B, L, Đồng Nai trong thời gian 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.
    • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax. IMEI 3552814380004845 (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 86/BB/2024 ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.)

    Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án;

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND quận Tân Bình; (5)
  • - Công an quận Tân Bình; (2)
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (3)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (7)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thanh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 04 giờ 15 phút ngày 04/01/2024 tại địa chỉ số 162 Nguyễn Hồng Đào, Phường 14, quận Tân Bình, Công an Phường 14 quận Tân Bình kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Đỗ Văn Hai cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng; thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (mẫu m) trong thùng sắt được gắn trên xe ba gác máy biển số 60Y2-5329 do Hai điều khiển. Tại bản Kết luận giám định số 867/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: mẫu m có khối lượng 0,1184 gam là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger