|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ngày 23-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Khang
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Vũ Thị Thanh T – Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố H, đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Ngọc T1, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1980 tại Thái Bình; nơi ĐKTT: 4/13 L, tổ G L, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nơi sinh sống: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn M và bà Nguyễn Thị K; có vợ là Vũ Thị T2 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 137/2007/HSST ngày 04/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 04/4/2009 chấp hành xong toàn bộ bản án (đã xóa án tích); bị bắt giữ ngày 02/01/2024, đến ngày 08/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, tại trước cửa nhà số D Đà Nẵng, phường C, quận N, Hải Phòng, Công an quận N phát hiện bắt quả tang Đặng Ngọc T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: tại vị trí T1 đứng 01 gói nilon kích thước 3 x 3 cm bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 16N6-4655.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Đặng Ngọc T1 vào ngày 03/01/2024: Dương tính với M1.
Kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,17 gam, là loại Heroine.
Kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 16N6-4655 có số khung, số máy nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự, có chủ sở hữu là anh Bùi Việt D, sinh năm: 1990, nơi cư trú: Số A Đ, M, N, Hải Phòng.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Ngọc T1 khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 18 giờ ngày 02/01/2024, T1 một mình điều khiển xe mô tô BKS 16N6–4655 từ An Lão đến khu vực ngõ C Đà Nẵng, Ngô Q để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, T1 gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua ma túy H với giá 100.000 đồng, người này đưa cho T1 01 gói ma túy. T1 cầm trong lòng bàn trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến trước cửa số nhà D Đà Nẵng, phường C thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, do sợ hãi T1 đã vứt gói ma túy xuống vị trí đang đứng.
Về đồ vật thu giữ, xử lý vật chứng:
Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý 01 phong bì niêm phong số 05MT/PC09 bên trong gồm: 0,09 gam ma túy Heroine, vỏ bao bì hoàn lại sau giám định.
Xe mô tô BKS 16N6-4655 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Việt D (sinh năm: 1990, nơi cư trú: Số A Đ, M, N, Hải Phòng). Năm 2015, anh D bán lại xe mô tô trên cho Bùi Quế D1, sinh năm: 1977, nơi cư trú: C, Q, A, Hải Phòng. Ngày 02/01/2024, Đặng Ngọc T1 có mượn xe mô tô BKS 16N6-4655 để đi có việc, anh D1 không biết việc T1 đi mua ma túy để sử dụng vì vậy Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô BKS 16N6-4655 cho anh Bùi Quế D1.
Tại Bản Cáo trạng số 91/CT-VKSNQ ngày 09/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đặng Ngọc T1
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Đặng Ngọc T1 khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T1 mức án từ 21 đến 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đôi với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 05MT/PC09 bên trong gồm: 0,09 gam ma túy H và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của bị cáo Đặng Ngọc T1 tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, tại trước số nhà D Đà Nẵng, phường C, quận N, Hải Phòng, bị cáo Đặng Ngọc T1 đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,17 gam Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Ngọc T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt đối với bị cáo:
[5] Hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản mặc dù đã được xoá án nhưng cần đánh gí bị cáo là người coi thường pháp luật. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải cải tạo tại cơ sở giam giữ theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[6] Bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
- Về xử lý vật chứng:
[7] Căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 05MT/PC09 bên trong gồm: 0,09 gam ma túy H và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định do đây là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng.
[8] Đối với người bán ma túy cho bị cáo chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ, nên chưa có cơ sở điều tra xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm.
[10] Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố:
Bị cáo Đặng Ngọc T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc T1 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2024.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 05MT/PC09 bên trong gồm: 0,09 gam ma túy Heroine, vỏ bao bì hoàn lại sau giám định.
(theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng Ngọc T1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Ngọc T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS
