|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2023/DS - PT Ngày: 28 - 11 - 2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và các giao dịch dân sự khác. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sơn, ông Vũ Thanh Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 09 và 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2022/TLPT-DS ngày 13/10/2022 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và các giao dịch dân sự khác”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 15/2022/DS - ST ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2023/QĐ-PT ngày 25 tháng 8 năm 2023 và các Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm, thông báo thay đổi thời gian xét xử, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1958
Địa chỉ: Số A phố B, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Những người đại diện theo ủy quyền của bà H:
- Bà Trần Thị Thu H1, sinh năm 1975
- Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1978
- Ông Hoàng Xuân B, sinh năm 1976
Địa chỉ: Nhà N.5.4, khu chức năng đô thị T, tổ dân phố N, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội;
Đều có địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Bà Đinh Bích H2, sinh năm 1965 và ông Lương Đức T, sinh năm 1958
Đều có địa chỉ: Số E, ngõ C, phố H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Phùng L, sinh năm 1948
- Bà Lê Thị H3, sinh năm 1960
- Văn phòng C3
- Công ty cổ phần Tập đoàn Nam Cường Hà Nội
Đều có địa chỉ: Số A B, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L và bà H3:
Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1960
Địa chỉ: Số A Đ, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Số C T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đồng Kim L1 - Trưởng văn phòng.
Địa chỉ: Lô B đường Đ, khu đô thị M, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn N2 - Tổng giám đốc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H:
- - Bà Lê Thị L2 - Luật sư Công ty L4, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội
Địa chỉ: Tầng C, số G N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H2:
- Ông Nguyễn Ngọc H4 và bà Đặng Thị Vân T1 - Luật sư Văn phòng L5, thuộc Đoàn luật sư thành phố H.
- Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị N3, Luật sư Công ty L6, thuộc Đoàn luật sư thành phố H.
Địa chỉ: Số E V, phường S, quận L, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số E Quán S, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị H, bị đơn bà Đinh Bích H2 và ông Lương Đức T.
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương kháng nghị.
Những người làm chứng:
- Bà Lê Thị N4;
- Ông Bùi Đình H5;
- Chị Vũ Thị Thùy D, sinh năm 1980
- Chị Nguyễn Thị N5, sinh năm 1982
- Bà Đinh Thị Bích L3 (tên gọi khác: H6), sinh năm 1958
Địa chỉ: Số B P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Số D N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Số I T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Số A Trẩn K, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Số G Q, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa có mặt bà H, bà H1, bà N, ông B, bà H2, bà N1, bà L2, ông H4, bà T1, ông C, bà N3; các đương sự khác vắng mặt; những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình làm việc với Tòa án, nguyên đơn là bà Phạm Thị H và người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày:
Từ năm 2008 đến năm 2013, bà H nhiều lần cho bà Đinh Bích H2 vay tiền, các bên có viết giấy biên nhận hoặc viết vào sổ theo dõi. Khi bà H2 thanh toán nợ thì bà H sẽ gạch sổ theo dõi, gạch giấy biên nhận hoặc trả lại giấy biên nhận cho bà H2. Khi bà H2 chưa thanh toán được khoản nợ cũ nhưng lại vay khoản mới thì các bên cũng thực hiện việc gạch sổ theo dõi, gạch giấy biên nhận đối với khoản vay cũ và sẽ cộng số nợ cũ vào số nợ mới và viết giấy biên nhận mới. Việc vay nợ có tính lãi với mức lãi suất từ 2,5%/tháng đến 3%/tháng. Ngày 25/01/2013, hai bên chốt nợ gốc và lãi bà H2 còn nợ bà H số tiền 33.127.000.000 đồng nhưng không xác định cụ thể được tiền gốc là bao nhiêu, tiền lãi là bao nhiêu. Ngày 26/3/2013, bà H cho bà H2 vay tiếp số tiền 2.130.000.000 đồng và hai bên thống nhất làm tròn số tiền bà H2 nợ bà H là 35.000.000.000 đồng.
Vì bà H2 không có khả năng thanh toán nên hai bên thống nhất trả nợ bằng việc bà H2 cùng chồng là ông Lương Đức T nhượng bán cho bà H một căn hộ chung cư C1 ở Hà Nội với số tiền 5.000.000.000 đồng và nhà đất tại khu B, thành phố H với số tiền 30.000.000.000 đồng (gồm: Thửa đất lô 120.19 tờ bản đồ QH 01, diện tích 194.96m², thửa đất số120 tờ bản đồ QHCQ-01,diện tích 247.82m², ngôi nhà 04 tầng xây dựng trên cả hai thửa đất và các tài sản khác), nhà đất hiện có địa chỉ tại số A P, khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Bà H2 giao cho bà H quản lý bản gốc 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất lô 120.19 và thửa đất số 120.
Ngày 26/3/2013, bà H2 và ông T ký “Giấy bán nhà nhượng đất” có nội dung bán cho bà H nhà đất tại khu B với số tiền 30.000.000.000 đồng. Ngày 28/3/2013, bà H2 và ông T ký Hợp đồng ủy quyền cho bà H được toàn quyền định đoạt đối với nhà đất nói trên, hợp đồng được Văn phòng công chứng (viết tắt: VPCC) Thành Đông (nay là Văn phòng C3) công chứng số 421, quyển số 01-2013 TP/CC-SCC/HĐGD. Ngày 29/3/2013, bà H, bà H2, ông T ký “Giấy bán nhà đất” có nội dung bán nhà đất tại khu B cho ông Phạm Phùng L với số tiền 17.000.000.000 đồng và trừ vào tiền bà H còn nợ ông L. Ngày 17/6/2013, bà H ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có nội dung thế chấp nhà đất tại khu B cho vợ chồng ông Phạm Phùng L và bà Lê Thị H3, hợp đồng được VPCC Thành Đông công chứng số D1, quyển số 02-2013 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H ngày 18/6/2013. Ngày 23/7/2013, bà H2 và ông T bàn giao nhà đất và tài sản tại khu B cho bà H trực tiếp quản lý. Quá trình sử dụng nhà đất, bà H có lắp thêm 01 chiếc điều hoà, 01 bộ cửa cuốn và hệ thống camera.
Về lô đất 15.3-17 đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương: Năm 2010, sau khi được bà H2 nói chuyện có thể mua đất của Công ty cổ phần T3 (sau đây viết là C4) chi nhánh H7 với giá rẻ hơn người khác, bà H đã nhờ bà H2 đứng tên mua hộ 89.6m² đất thuộc lô đất số A đường P, khu A, khu đô thị P (nay thuộc phường T), thành phố H, tỉnh Hải Dương. Bà H2 báo giá đất là 19.388.000đ/m² nhưng được khuyến mại 20% và được hưởng hoa hồng nên chỉ phải trả cho C4 tổng số tiền mua lô đất là 1.348.000.000 đồng. Bà H đã giao tiền và bà H2 tự ký giấy biên nhận xác nhận đã nhận đủ số tiền 1.348.000.000 đồng. Sau đó, bà H và bà H2 xảy ra tranh chấp nên đến nay bà H chưa làm được thủ tục sang tên đối với lô đất nói trên.
Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:
- Buộc bà H2 và ông T phải trả lại cho bà số tiền 30.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 25/01/2013 và tiền lãi từ ngày 25/01/2013 đến khi xét xử sơ thẩm vụ án.
- Hủy “Giấy bán nhà nhượng đất” ngày 26/3/2013 ký giữa bà H và bà H2, ông T; hủy “Giấy chuyển nhượng nhà đất” ngày 29/3/2013 ký giữa bà H và bà H2, ông T, ông L đều liên quan đến nhà đất tại khu B.
- Bà H yêu cầu được tiếp tục quản lý nhà đất và tài sản tại khu biệt thự Đỉnh Long để đảm bảo việc thi hành án của bà H2 và ông T.
- Công nhận bà H có quyền sử dụng hợp pháp lô đất số 15.3-17 đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Đối với các yêu cầu phản tố của bà H2: Bà H đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 28/3/2013 ký giữa bà H2, ông T và bà H, hủy Hợp đồng thế chấp ngày 17/6/2013 ký giữa bà H và vợ chồng ông L, bà H3 theo quy định của pháp luật. Bà H không chấp nhận thanh toán 3.000.000.000 đồng tiền mua căn hộ chung cư C ở Hà Nội; không chấp nhận yêu cầu được trả lại nhà đất và tài sản tại khu B cho đến khi bà H2 và ông T thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.
Tại đơn phản tố và quá trình làm việc với Tòa án, bị đơn là bà Đinh Bích H2 và người đại diện theo ủy quyền của bà H2 trình bày:
Giấy biên nhận ngày 25/01/2013 là giấy bà H2 và bà H chốt nợ với nhau nhưng số tiền chốt 33.127.000.000 đồng không phải là nợ gốc bà H2 vay bà H mà bao gồm cả nợ gốc, nợ lãi và lãi của lãi (do bà H nhập cả lãi vào gốc để tính lãi). Số tiền gốc bà H2 vay bà H là 7.500.000.000 đồng bao gồm: Ngày 11/11/2008 vay 200.000.000 đồng; ngày 15/01/2009 vay 500.000.000 đồng; ngày 03/3/2009 vay 500.000.000 đồng; ngày 31/3/2009 vay 3.000.000.000 đồng; ngày 04/5/2009 vay 500.000.000 đồng; ngày 06/6/2010 vay 800.000.000 đồng và tháng 9/2009 vay 2.000.000.000 đồng (số tiền này do bà H đưa bà H2 đến nhận trực tiếp của ông Bùi Đình H5 nhưng không viết giấy tờ với ông H5). Sau đó bà H mua lô đất số 49.10 và lô đất số 53.05 hộ ông H5 nhưng để ông Bùi Huy S (là bố ông H5) đứng tên. Hai lô đất trên do CT Nam Cường giao cho bà H2 làm đại lý môi giới và bà H2 nhờ chị Vũ Thị Thùy D đứng tên hộ trên hợp đồng môi giới với C4. Bà H2 và bà H thỏa thuận giá chuyển nhượng lô đất số 53.05 là 407.96m² x 14.000.000đ/m² = 5.711.440.000 đồng nhưng bà H chỉ đưa cho bà H2 180.000 USD tương đương 3.423.600.000 đồng và bảo bà H2 đối trừ vào số tiền vay 2.000.000.000 đồng mà bà H2 nhận từ ông H5. Ngày 20/4/2011, bà H2 trả cho bà H số tiền 500.000.000 đồng nhưng không viết giấy tờ gì. Do đó, tổng số tiền bà H2 đã trả bà H là 2.500.000.000 đồng. Vì vậy, bà H2 nhất trí trả cho bà H số tiền nợ còn lại là 5.000.000.000 đồng và không chấp nhận trả tiền lãi theo yêu cầu của bà H vì bà H đã được trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất tại khu B từ năm 2013 đến nay.
Ngày 26/3/2013, bà H cho bà H2 vay số tiền 2.130.000.000 đồng, cộng với số tiền 33.127.000.000 đồng chốt tại giấy biên nhận ngày 25/01/2013, tổng là 35.257.000.000 đồng nhưng hai bên thống nhất làm tròn tổng số tiền nợ là 35.000.000.000 đồng, số dư còn lại thì đối trừ vào các khoản nhỏ lẻ khác. Sau đó, hai bên thống nhất trả nợ bằng việc vợ chồng bà H2 và ông T chuyển nhượng cho bà H nhà đất tại khu B với số tiền là 30.000.000.000 đồng và căn hộ chung cư C1 ở Hà Nội với số tiền 5.000.000.000 đồng. Bà H2, ông T ký “Giấy bán nhà nhượng đất” ngày 26/3/2013 có nội dung bán nhà đất tại khu B cho bà H và ký Hợp đồng uỷ quyền ngày 28/3/2013 có nội dung ủy quyền cho bà H được liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên nhà đất. Giấy chuyển nhượng nhà đất ngày 29/3/2013 ký giữa bà H2, ông T, bà H với ông L chỉ là hình thức vì khi đó ông L cho bà H vay tiền nhưng sợ bà H không trả được nên bà H viết giấy bán nhà nói trên cho ông L để làm tin. Bà H2 và ông T đồng ý ký vào “Giấy chuyển nhượng nhà đất” ngày 29/3/2013 để bà H, ông L tin rằng bà H2, ông T sẽ giao nhà đất cho bà H. Ngày 23/7/2013, bà H2 đã bàn giao nhà đất và các tài sản tại khu B cho bà H trực tiếp quản lý. Vì việc chuyển nhượng nhà đất tại khu B giữa các bên không có thật nên bà H2 nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu Tòa án hủy “Giấy bán nhà nhượng đất” ngày 26/3/2013 ký giữa bà H và bà H2, ông T; hủy “Giấy chuyển nhượng nhà đất” ngày 29/3/2013 ký giữa bà H, ông L và bà H2, ông T. Bà H2 không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc được tiếp tục quản lý nhà đất và tài sản tại khu biệt thự Đỉnh Long vì sau khi bản án xét xử vụ án có hiệu lực pháp luật mà bà H2, ông T chậm trả tiền thì phải chịu lãi theo quy định pháp luật.
Đối với lô đất 15.3-17 đường P, phường T, thành phố H: Tháng 3/2010, bà H2 mua lô đất này của CT N. Sau khi trừ 20% hoa hồng, bà H2 đã nộp tiền mua lô đất trên làm 04 đợt theo 04 phiếu thu tiền của CT Nam Cường với tổng số tiền là 1.384.661.159 đồng, cụ thể: Ngày 30/3/2010, nộp 50.000.000 đồng; ngày 01/6/2010 nộp 642.330.579 đồng; ngày 19/7/2010 nộp 415.398.348 đồng; ngày 14/10/2010 nộp 276.932.232 đồng. Bà H muốn mua lại lô đất trên vì là lô góc nên bà H2 để nguyên giá gốc cho bà H và cho luôn 20% hoa hồng. Bà H soạn sẵn giấy biên nhận và đọc cho bà H2 viết số tiền 1.348.000.000 đồng rồi ký nhận. Tuy nhiên, số tiền thực tế bà H đã trả cho bà H2 là 1.055.000.000 đồng. Do bà H không thanh toán số tiền còn thiếu là 329.000.000 đồng nên giao dịch mua bán lô đất giữa hai bên chưa hoàn thành. Mặt khác, lô đất là tài sản chung của vợ chồng bà H2, ông T nhưng khi bà H2 thực hiện giao dịch với bà H không được sự đồng ý của ông T. Vì vậy, bà Hợp đề n Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng lô đất 15.3-17 đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương giữa bà H2 với bà H vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu.
Bà H2 yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:
- Hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 28/3/2013 ký giữa bà H2 và ông T với bà H; hủy Hợp đồng thế chấp ngày 17/6/2013 ký giữa bà H và vợ chồng ông L, bà H3.
- Buộc bà H phải thanh toán cho bà H2 và ông T 3.000.000.000 đồng tiền mua căn hộ chung cư C ở Hà Nội.
- Buộc bà H trả lại nhà đất và tài sản tại khu B theo giấy giao tài sản ngày 23/7/2013.
Bị đơn là ông Lương Đức T và người đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày:
Việc làm ăn giữa bà H2 với bà H như thế nào ông T không biết vì ông không tham gia. Do đó, ông T cũng không nắm được số tiền nợ giữa bà H2 và bà H nên không xác định được số tiền bà H2 chưa thanh toán cho bà H là bao nhiêu. Ông T không chấp nhận thanh toán tiền lãi theo yêu cầu của bà H vì các bên đều đang được sử dụng tài sản của nhau. Ông T nhất trí với các yêu cầu phản tố của bà H2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Phùng L, bà Lê Thị H3 và người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà H3 trình bày:
Ông L cho bà H vay tiền làm nhiều lần với tổng số tiền cho vay là 17.000.000.000 đồng. Bà H nói với ông L là vay tiền của ông L để cho bà H2 vay lại nhưng việc vay tiền giữa bà H và bà H2 như thế nào thì ông L, bà H3 không biết. Vì ông L sợ bà H hoặc bà H2 không trả nợ nên các bên thống nhất viết “Giấy bán nhà đất” ngày 29/3/2013 để trấn an, giúp ông L yên tâm. Ngày 17/6/2013, bà H ký Hợp đồng thế chấp có nội dung thế chấp nhà đất tại khu biệt thự Đỉnh Long của bà H2, ông T cho ông L, bà H3 phù hợp với nội dung và phạm vi ủy quyền của ông T, bà H2 theo Hợp đồng ủy quyền ngày 28/3/2013; hợp đồng thế chấp được công chứng tại D1 và được đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H theo đúng các quy định của pháp luật. Vì thực tế không có việc mua bán nhà đất tại khu B của bà H2, ông T nên ông L, bà H3 nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà H về việc hủy “Giấy bán nhà đất” ngày 29/3/2013 ký giữa bà H, bà H2, ông T với ông L. Tuy nhiên, hiện bà H vẫn chưa trả hết nợ cho vợ chồng ông L, bà H3 nên ông L, bà H3 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H2 về việc tuyên hủy Hợp đồng thế chấp ngày 17/6/2013.
Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là VPCC Đồng Kim Lan trình bày:
Ngày 28/3/2013, ông T, bà H2 và bà H cùng đến trụ sở D1 (nay là VPCC Đ) để yêu cầu công chứng Hợp đồng ủy quyền với nội dung ông T, bà H2 ủy quyền cho bà H được toàn quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục xin hợp nhất thửa đất số lô 120.19, tờ bản đồ QH 01 và thửa đất số lô 120, tờ bản đồ QHCQ-01; toàn quyền quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, thế chấp, chuê thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nếu có) của hai thửa đất nêu trên theo quy định của pháp luật ... Công chứng viên đã kiểm tra giấy tờ liên quan và giải thích rõ nội dung hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan, hậu quả pháp lý của việc ủy quyền. Các bên đã đọc lại hợp đồng, hiểu rõ toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng; hiểu rõ quyền, nghĩa vụ, hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng ủy quyền và đã nhất trí cùng ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng. D1 đã công chứng Hợp đồng ủy quyền số 421, quyển số 01-2013TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/3/2013. Ngày 17/6/2013, bà H đến trụ sở VPCC T yêu cầu công chứng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất nêu trên là phù hợp với nội dung ghi trong Hợp đồng ủy quyền ngày 28/3/2013 nên D1 đã công chứng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 453, quyển số 02/2013 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2013. Việc công chứng các hợp đồng nêu trên là phù hợp quy định pháp luật.
Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần T3 trình bày:
CT Nam Cường có giao dịch chuyển quyền sử dụng lô đất 15.3-17 đường P, khu A, khu đô thị P, thành phố H, tỉnh Hải Dương cho bà H2 và bà H2 đã thanh toán xong giá trị tiền đất là 1.384.661.159 đồng. Mặc dù lô đất đủ điều kiện ký hợp đồng mua bán nhưng bà H2 chưa ký kết hợp đồng mua bán, chưa nộp các khoản thuế, phí theo quy định. Công ty không lưu giữ bất cứ tài liệu gì đứng tên bà H đối với lô đất này. Hiện CT Nam Cường vẫn là đơn vị trực tiếp quản lý lô đất 15.3-17 và đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu của các đương sự theo quy định pháp luật.
Người làm chứng là ông Bùi Đình H5 trình bày:
Khoảng cuối tháng 8/2009, bà H nhờ ông giữ hộ số tiền 3.000.000.000 đồng vì lý do đi xa, để ở nhà không yên tâm. Đến đầu tháng 9/2009, bà H bảo ông giao cho bà H2 2.000.000.000 đồng với mục đích là bà H cho bà H2 vay. Sau đó bà H2 đến tại phòng làm việc của ông ở cơ quan và ông đã giao đủ 2.000.000.000 đồng cho bà H2. Ông khẳng định không có việc ông Bùi Huy S (là bố đẻ ông) đối trừ số tiền trên vào tiền mua đất của bà H2.
Người làm chứng là chị Vũ Thị Thùy D trình bày:
Năm 2010, chị đứng tên hộ bà H2 tại Hợp đồng dịch vụ môi giới chuyển nhượng 17 lô đất (có bao gồm lô 49.10 và 53.05) tại khu đô thị P thành phố H với C4 chi nhánh H7. Vì đứng tên hộ nên chị chỉ thực hiện thủ tục hành chính là ký hợp đồng môi giới, ký văn bản giới thiệu khách hàng mua đất và một số giấy tờ liên quan chứ chị không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính với CT N, khách hàng mua đất không phải nộp bất cứ khoản tiền nào cho chị. Chị không chứng kiến nên không biết ông Bùi Huy S thanh toán tiền mua hai lô đất 49.10 và 53.05 cho ai. Chị có xác nhận tại bản giải trình của bà H2 nội dung “toàn bộ tiền mua do bà H2 đưa tôi và tiền bán sau này do bà H2 giữ” có nghĩa là các đợt nộp tiền cho CT Nam Cường thì bà H2 nộp hoặc chị nộp nhưng đều là tiền của bà H2. Giấy biên nhận ngày 25/6/2010 (BL 543) là chữ viết, chữ ký của chị. Theo nội dung giấy biên nhận này thì nguồn gốc khoản tiền 2.000.000.000 đồng chị nộp vào tài khoản của bà H2 là tiền của bà Lê Thị N4 nhưng vì thời gian đã lâu nên chị không nhớ ai là người trực tiếp đưa cho chị khoản tiền trên và không nhớ sau đó bà H2 có nhờ chị thanh toán trả cho bà N4 số tiền nào không.
Người làm chứng là chị Nguyễn Thị N5 trình bày:
Chị làm thủ quỹ tại C4 chi nhánh H7 từ năm 2006 đến tháng 10/2015 nên chị biết bà H2 được CT Nam Cường giao cho làm đại lý môi giới chuyển nhượng 17 lô đất tại Khu đô thị M, thành phố H, tỉnh Hải Dương, có bao gồm lô đất số 49.10 và lô đất số 53.05. Tuy nhiên, khi ký hợp đồng môi giới với C4 thì bà H2 không trực tiếp đứng tên mà nhờ chị Vũ Thị Thùy D đứng tên hộ. Chị xác định chữ ký, chữ viết dưới mục thủ quỹ tại 04 phiếu thu do C4 cung cấp cho Tòa án đúng là chữ ký, chữ viết của chị. Chị xác định trực tiếp thu tiền mặt của ông Bùi Huy S đối với các khoản thuế, lệ phí trước bạ nhưng không trực tiếp thu tiền nhận chuyển nhượng hai lô đất 49.10 và 53.05 của ông S vì khi phòng kế toán chuyển phiếu thu cho chị đã ghi chú rõ ở phía trên nội dung “HN thu.KHĐ 61217”, “HN thu. KHD 061218” có nghĩa là khoản tiền đã được trên tập Nam Cường ở Hà Nội thu rồi. Chị cùng kế toán và ông S ký tên tại các phiếu thu này là để hoàn thiện hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Người làm chứng là bà Lê Thị N4 trình bày:
Ngày 25/6/2010, bà H gọi điện cho bà hỏi vay cho bà H2 2.000.000.000 đồng và bà đồng ý cho vay với lãi suất 1.000đồng/1.000.000 đồng/ngày. Vì lúc đó bà H, bà H2 đều đi làm ăn ở xa nên đã nhờ bà ra ngân hàng gặp chị Vũ Thị Thùy D để chuyển tiền vay cho bà H2, chị D có viết giấy biên nhận cho bà. Ngoài ra, bà H2 còn vay của bà 1.500.000 đồng để tiêu vặt. Khoảng 13 ngày sau thì bà H2 trả bà 1.000.000.000 đồng tiền gốc. Ngày 24/7/2010, bà H trả nợ hộ bà H2 tổng số tiền nợ gốc và lãi là 1.043.500.000 đồng nên bà đưa lại cho bà H giấy biên nhận của chị D. Hiện bà H2 đã trả nợ cho bà H chưa thì bà không biết và bà không còn liên quan gì đến số tiền cho bà H2 vay.
Người làm chứng là bà Đinh Thị Bích L3 (tên gọi khác: H6) trình bày:
Trước năm 2013, bà không quen biết và không gặp bà H lần nào. Đến năm 2013, con gái bà yêu con trai bà H thì bà mới biết bà H nhưng cũng không gặp gỡ bà H. Vì vậy, bà H ghi tài liệu và trình bày giao cho bà 293.000.000 đồng vào ngày 29/9/2010 để trả bà H2 tiền mua lô đất 15.3-17 đường P là không đúng. Bà cam đoan không nhận bất cứ khoản tiền nào của bà H và không liên quan gì đến các giao dịch giữa bà H và bà H2.
Người làm chứng là bà Nguyễn Thị Á trình bày:
Khoảng năm 2015, bà muốn mua lại lô đất 15.3-17 đường P, khu A, phường T, thành phố H của bà H và đến hỏi thủ tục thì được CT Nam C2 cho biết phải có sự đồng ý của bà H2 thì mới làm thủ tục sang tên được. Bà đã gọi điện trao đổi và nhờ bà H2 phối hợp ký giấy tờ nhưng bà H2 không đồng ý nên bà không mua lô đất trên nữa.
Vụ án được Toà án thụ lý giải quyết lần đầu ngày 03/10/2013 và được xét xử theo các bản án, gồm: Bản án số 03/2014/DS-ST ngày 02/4/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Bản án số 23/2014/DS-PT ngày 15/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương; Bản án số 02/2017/DS-ST ngày 21/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Bản án số 40/2017/DS-PT ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 81/2018/DS-GĐT ngày 27/12/2018, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội quyết định huỷ toàn bộ Bản án số 40/2017/DS-PT ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương và Bản án số 02/2017/DS-ST ngày 21/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Ngày 03/4/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã thụ lý giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm lần thứ 03.
Tại bản án số 15/2022/DS-ST ngày 17/8/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã căn cứ vào các Điều 122, Điều 124, Điều 128, Điều 129, Điều 137, Điều 425, Điều 514, Điều 517 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận sự thỏa thuận giữa bà H và bà H2, ông T về việc hủy “Giấy bán nhà nhượng đất” ngày 26/3/2013 ký bởi bà H2 và ông T.
- Chấp nhận sự thỏa thuận giữa bà H, bà H2, ông T, ông L, bà H3 về việc hủy “Giấy bán nhà đất” ngày 29/3/2013 ký giữa bà H, bà H2, ông T và ông L.
- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền giữa bà H2, ông T với bà H được Văn phòng C5 công chứng số 421, quyển số 01-2013 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/3/2012 vô hiệu.
- Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà H với ông L, bà H3 được Văn phòng C5, quyển số 02-2013 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2013 vô hiệu.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc được tiếp tục quản lý nhà, đất và các tài sản khác tại số A P, khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương để bảo đảm việc thi hành án của bà Đinh Bích H2, ông Lương Đức T. Buộc bà H phải tháo dỡ hệ thống camera, 01 cửa cuốn, 01 máy điều hòa cùng các đồ dùng sinh hoạt khác của bà để trả lại cho bà H2, ông T thửa đất lô 120.19 tờ bản đồ QH 01, thửa đất số 120 tờ bản đồ QHCQ-01 và công trình, tài sản gắn liền với đất, địa chỉ tài sản: Số A P, khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (danh mục tài sản theo Phụ lục thẩm định giá tại Chứng thư số 4208/CTh-VCHP ngày 26/9/2016 của Công ty cổ phần T4 được đính kèm bản án này).
- Buộc ông L, bà H3 phải trả lại bà H2 và ông T bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 626223, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H-02789 do UBND thành phố H cấp ngày 02/10/2009 đứng tên bà H2, ông T đối với thửa đất số 120, tờ bản đồ số QHCQ-01 và bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 928080, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 00728 do UBND thành phố H cấp ngày 12/12/2011 đứng tên bà H2, ông T đối với thửa đất số 120.19, tờ bản đồ số QH 01.
- Xác nhận số tiền nợ bà H2 và ông T chưa thanh toán cho bà H tính đến ngày 26/3/2013 là 20.190.812.800 đồng.
- Xác nhận số tiền bà H chưa thanh toán cho bà H2, ông T khi mua căn hộ chung cư C ở Hà Nội là 3.000.000.000 đồng.
- Xác nhận 89,6m² đất ở thuộc lô đất số 15.3-17 đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương trị giá 3.763.200.000 đồng thuộc quyền sử dụng chung theo phần của bà H, bà H2 và ông T. Phần giá trị quyền sử dụng đất bà H được hưởng là 2.867.254.500 đồng; phần giá trị quyền sử dụng đất bà H2 và ông T được hưởng là 895.945.500 đồng.
Giao cho bà H được trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất 89,6m² đất ở thuộc lô đất số 15.3-17 đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Bà Phạm Thị H có nghĩa vụ nộp các khoản thuế, phí theo quy định của Công ty cổ phần T3 và liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục hợp pháp hóa đối với thửa đất nêu trên.
Bà H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đinh Bích H2 và ông Lương Đức T giá trị phần quyền sử dụng lô đất số 15.3-17 đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương là 895.945.500 đồng.
- Buộc bà Đinh Bích H2 và ông Lương Đức T có nghĩa vụ thanh toán trả bà Phạm Thị H số tiền sau khi đối trừ các khoản tiền các bên phải thanh toán cho nhau = 18.202.664.234 đồng - (3.000.000.000 đồng + 895.945.500 đồng) = 14.306.718.734 đồng.
- Về chi phí tố tụng:
Bà Phạm Thị H phải chịu 35.271.500 đồng chi phí thẩm định giá tài sản (đã nộp). Bà Đinh Bích H2 phải chịu 35.271.500 đồng chi phí thẩm định giá tài sản (đã nộp 16.500.000 đồng; đối trừ vào số tiền bà Phạm Thị H đã nộp là 18.771.500 đồng). Buộc bà Đinh Bích H2 phải hoàn trả bà Phạm Thị Hương H số tiền chi phí thẩm định giá là 18.771.500 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị H và ông Lương Đức T. Buộc bà Đinh Bích H2 phải chịu 61.153.359 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 46.300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương (gồm: số tiền 46.000.000 đồng theo biên lai thu số AB/2014/002001 ngày 14/11/2014, số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số AB/2014/0002699 ngày 06/3/2017), bà Đinh Bích H2 còn phải nộp tiếp 14.853.359 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả bà Phạm Thị H tổng số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương là 83.160.000 đồng (gồm: số tiền 69.000.000 đồng theo biên lai số AA/2011/10589 ngày 02/10/2013; số tiền 200.000 đồng theo biên lai thu số AA/2011/12130 ngày 15/4/2014; số tiền 13.460.000 đồng theo biên lai thu số AB/2014/005803 ngày 18/12/2015; số tiền 200.000 đồng theo biên lai thu số AB/2014/005804 ngày 18/12/2015; số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số AB/2014/0002703 ngày 07/3/2017.
Hoàn trả ông Phạm Phùng L và bà Lê Thị H3 số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AB/2014/0002710 ngày 09/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Về án phí phúc thẩm:
Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại bà Đinh Bích Hợp s tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0001169 ngày 31/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - TAND thành phố Hải Dương; - VKSND thành phố Hải Dương; - CC THADS thành phố Hải Dương; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lâm |
Bản án số 84/2023/DS - PT ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và các giao dịch dân sự khác.
- Số bản án: 84/2023/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và các giao dịch dân sự khác.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị H khởi kiện bà Đinh Bích H và ông Lương Đức T
