Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

—————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————————

Bản án số: 84/2024/HNGĐ - ST

Ngày 20 tháng 9 năm 2024

"V/v: Tranh chấp Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Bế Thiện

2. Bà Trần Kim Liên

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vi Phương Linh – Thư ký

Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Diệp Thị Hương- Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 484/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXX-ST ngày 09/8/2024 giữa:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thanh B sinh năm 1964

Nơi cư trú tổ H, phường T, thành phố T

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1960

Nơi cư trú tổ H, phường T, thành phố T

Hiện đang chấp hành án tại Đội 18, K6, Trại giam P. Bộ C

(Bà B có mặt, ông N có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Vũ Thanh B trình bày

B và ông N kết hôn tháng 11 năm 2018, trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T. Trong thời gian chung sống vợ chồng không có con chung và có sảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống. Đến thời điểm này bà B có tuổi nên có nhiều bệnh tật, không đủ khả năng làm vợ được nữa nên xin được ly hôn để giải thoát cho cả hai bên

Khi ly hôn bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Bà B nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Tại bản tự khai của ông Nguyễn Văn N

Ông N đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, ông xác định có kết hôn với bà B tháng 11/2018, tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 ông N bị bắt về tội đánh bạc và bị xử phạt 36 tháng tù, bà B có lên thăm 3 lần, sau đó không lên thăm nữa, nay bà B xin ly hôn ông N nhất trí. Ông N xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải ngày 23/8/2024, hiện nay ông N đang chấp hành án tại Trại giam P nên có đơn xin vắng mặt tại phiên hoà giải và có ý kiến giữ nguyên ý kiến tại bản tự khai ngày 16/8/2024.

Do ông N vắng mặt trong buổi hoà giải ngày 23/8/2024 nên Toà án không thể tiến hành hoà giải được, đồng thời bà B có ý kiến không yêu cầu hoà giải. Do vậy phải mở phiên tòa xét xử ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, bà Vũ Thanh B giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Văn N, lý do hiện nay bà B tuổi đã cao, ốm đau bệnh tật không đủ khả năng làm vợ nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông N.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Tại phiên toà bà Vũ Thanh B xác định hiện nay bà cũng đã có tuổi, ốm đau bệnh tật không đủ khả năng làm vợ nên đề nghị ly hôn ông N, bản thân ông N nhất trí quan điểm đồng ý ly hôn để giải phóng cho cả hai bên. Xét thấy hiện bà B và ông N đã nhất trí thuận tình ly hôn, do hiện nay ông N đang chấp hành bản án dẫn đến không đến Toà án để giải quyết thuận tình ly hôn nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình. Về con chung: Bà B, ông N không có con chung nên không giải quyết; về tài sản chung, nợ chung các bên tự thoả thuận nên không có căn cứ xem xét; về án phí: bà B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Vũ Thanh B, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn”; bị đơn có địa chỉ tổ H, phường T, thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Văn N để tham gia tố tụng. Tuy nhiên ông N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử Quyết định xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn N

[2] Về nội dung:

2.1 Về hôn nhân: Bà Vũ Thanh B và ông Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, việc đăng ký kết hôn đã được thực hiện tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T là cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn: Sau khi kết hôn hai vợ chồng hạnh phúc một thời gian đến năm 2021 ông N bị kết án về tội đánh bạc, hiện nay bà B có tuổi, thường xuyên ốm đau, bệnh tật, xác định không có khả năng làm vợ, ông N xác định bà B có đến thăm được 3 lần sau đó không đến nữa, nay bà B làm đơn xin ly hôn ông N nhất trí để giải thoát cho cả hai bên. Từ nội dung trên Hội đồng xét xử thấy ông N xác định ý kiến của bà B là đúng, nhất trí quan điểm đồng ý ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà B là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình

2.2. Về con chung: Hai ông bà xác định không có con chung

2.3 .Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không có căn cứ giải quyết.

[3] Về án phí:B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ: các Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217; Điều 218; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật phí Lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thanh B về việc "Ly hôn"
    • - Quan hệ hôn nhân:Vũ Thanh B được ly hôn với ông Nguyễn Văn N
    • - Về con chung: Không có
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
  2. Án phí: Bà Vũ Thanh B phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003122 ngày 15/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
  3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN
  • - VKSND TP;
  • - Chi cục THADS TP;
  • - UBND P.Trưng Vương, TPTN
  • - Đương Sự;
  • - Lưu HS.BP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ - ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger