TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày: 20/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Lượng
- Ông Ma Quốc Thể
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Ngô Xuân Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 20/8/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Vũ Minh T, sinh ngày 09/3/1984 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Xóm Q, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1, sinh năm 1959 và bà Dương Thị C, sinh năm 1959; vợ: Trần Thị D, sinh năm 1986; con: Có 03con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2023; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).
- Ma Văn H, sinh ngày 23/6/1981 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn H1, sinh năm 1949 (đã chết) và bà Trần Thị T2, sinh năm 1954; vợ: Lương Thị M, sinh năm 1979; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2006; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ 03;
* Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Minh T là người sử dụng chất ma túy. Trong các ngày 16/3/2024 và ngày 05/4/2024, T đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Ma Văn H, sinh năm 1981, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 16/3/2024, H mượn điện thoại của một người đi đường (không biết tên tuổi, địa chỉ) gọi điện thoại cho T hỏi mua 500.000 đồng ma túy, T đồng ý, bảo Hoàng chuyển khoản trước và hẹn H sang khu vực Cây đa đôi thuộc xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để trao đổi mua bán. Sau đó, T nhắn tin số tài khoản 8501205445524 ngân hàng A của chị Trần Thị D (vợ T) để H chuyển tiền. H nhờ luôn người mà H vừa mượn điện thoại chuyển cho T 500.000 đồng. Sau khi xác nhận đã nhận được tiền, T mượn thẻ ngân hàng của D đi rút 500.000 đồng H vừa chuyển và T góp thêm 200.000 đồng, một mình điều khiển xe mô tô biển số 20F1-124.14 (xe của Trần Thị D, vợ T) đi đến khu vực bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái nguyên, gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ được 02 gói ma túy với số tiền 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T điều khiển xe về nhà, T sử dụng hết 01 gói bằng hình thức đốt hít vào cơ thể; 01 gói còn lại T cất giấu trên người rồi điều khiển xe mô tô đến địa điểm hẹn đưa cho H. H đi nhờ xe về khu vực vắng người thuộc thôn R, xã H, huyện S xuống xe một mình sử dụng hết bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể.
Lần 2: Khoảng 13 giờ ngày 05/4/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 20F1-124.14 đến khu vực bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ được 02 gói ma túy với số tiền 1.300.000 đồng. T điều khiển xe về nhà, T sử dụng hết 01 gói bằng hình thức đốt hít vào cơ thể; 01 gói còn lại T cất giấu trên người rồi điều khiển xe mô tô đến nhà bố mẹ của T ở thôn R, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang chơi. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, H mượn điện thoại của Ma Văn T3, sinh năm 1987, cư trú cùng thôn, gọi cho T hỏi mua 800.000 đồng ma túy, T đồng ý, bảo Hoàng chuyển khoản trước vào số tài khoản của Trần Thị D (vợ T) và hẹn H đến khu vực Cầu tràn thuộc thôn R, xã H, huyện S để trao đổi mua bán. Sau đó H đến nhà Trần Ngọc T4, sinh năm 1997, cư trú cùng thôn, nhờ T4 chuyển khoản hộ 800.000 đồng vào số tài khoản của D. Sau khi xác nhận đã nhận được tiền, T đi đến địa điểm hẹn gặp và đưa cho H 01 gói ma túy. H đến khu vực ven suối thuộc thôn R, xã H, huyện S sử dụng một phần bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể, phần còn lại Hoàng giấu vào quai dép đang đi và đi nhờ xe mô tô của người đi đường về đến thôn C, xã T, huyện S, H xuống xe đi bộ thì gặp Tổ công tác Công an huyện S đang làm việc phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ của H 01 gói được gói bằng giấy màu trắng bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng, H khai là ma túy mua của T, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hồi 23 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện S thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Minh T, tạm giữ 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Vsmart, màn hình cảm ứng, bên trong lắp sim Viettel số 0985.509.xxx, máy cũ đã qua sử dụng.
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 06/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Minh T, không thu giữ đồ vật gì.
Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Vũ Minh T, Ma Văn Hoàng dương (+) tính với ma túy.
Kết luận giám định số 511/GĐKTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Ma Văn H gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,198g (không phẩy một chín tám gam).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma tuý (đã giám định); 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Vsmart, màn hình cảm ứng, bên trong lắp sim Viettell số 0985.509.xxx, thân máy có nhiều vết trầy xước, máy cũ đã qua sử dụng của Vũ Minh T và số tiền 800.000 đồng do Trần Thị D (vợ T) giao nộp.
Cáo trạng số 85/CT-VKSSD, ngày 08/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Vũ Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Ma Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ma Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Minh T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (05/4/2024).
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Bị cáo Ma Văn H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (05/4/2024).
Do các bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Ma Văn H; mặt trước bì ghi “Tang vật vụ Ma Văn H, giám định ngày 05/4/2024”.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000₫ do phạm tội mà có của bị cáo Vũ Minh T (do vợ T giao nộp).
- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000₫ do phạm tội mà có của bị cáo Vũ Minh T.
- Tịch thu của bị cáo Vũ Minh T 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Vsmart, màn hình cảm ứng, bên trong lắp sim Viettell số 0985.509.xxx, thân máy có nhiều vết trầy xước, máy cũ đã qua sử dụng, để sung quỹ nhà nước.
Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[1.1] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Vũ Minh T: Trong các ngày 16/3/2024 và 05/4/2024, Vũ Minh T đã 02 lần bán trái phép ma túy (Heroine) cho Ma Văn H, cụ thể:
- Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 16/3/2024, tại khu vực Cây đa đôi thuộc xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.T bán trái phép 01 gói Heroine cho H với số tiền 500.000 đồng.
- Lần 2: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, tại khu vực Cầu tràn thuộc thôn R, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. T bán trái phép 01 gói Heroine cho H với số tiền 800.000 đồng.
[1.2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Ma Văn H: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, tại thôn C, xã T, huyện S. Ma Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,198g (Không phảy một chín tám gam) Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Vũ Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Ma Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo. Ngoài ra bị cáo H là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo H.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát và Luật sư đề nghị như vậy là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Ma Văn H; mặt trước bì ghi “Tang vật vụ Ma Văn H, giám định ngày 05/4/2024”. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 800.000đ do vợ của bị cáo T giao nộp, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước;
- Truy thu sung công quỹ nhà nước của bị cáo Vũ Minh T số tiền 500.000₫ do phạm tội mà có.
- 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Vsmart, màn hình cảm ứng, bên trong lắp sim Viettell số 0985.509.xxx, thân máy có nhiều vết trầy xước, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ củaVũ Minh Tiến, là phương tện bị cáo dùng để giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[5] Các vấn đề khác:
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ma Văn H và Vũ Minh T vào ngày 16/3/2024 và ngày 05/4/2024. Công an huyện S đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với H và chuyển tài liệu đến Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để xử lý vi phạm hành chính đối với T theo quy định.
Đối với người đàn ông theo lời khai nhận của T là người bán ma túy cho T vào các ngày 16/3/2024 và 05/4/2024 tại khu vực bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Đối với Ma Văn T3, Trần Ngọc T4 không biết việc Hoàng mượn điện thoại, nhờ chuyển tiền qua tài khoản để mua ma túy và Trần Thị D (vợ T) không biết việc T mượn xe mô tô và sử dụng số tài khoản ngân hàng để thực hiện việc mua bán ma túy nên không đề cập xử lý.
Ngày 16/3/2024 H nhờ người đàn ông đi đường chuyển khoản, quá trình điều tra ngân hàng không xác định được địa chỉ của chủ tài khoản, nên không có căn cứ điều tra xử lý.
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo H là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn thuộc đối tượng được miễn án phí, nhưng bị cáo từ chối và không viết đơn xin miễn án phí. Do vậy HĐXX không xem xét.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 249; Điều 251; Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ma Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt đối với các bị cáo:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Minh T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (05/4/2024).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ma Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (05/4/2024).
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Ma Văn H; mặt trước bì ghi “Tang vật vụ Ma Văn H, giám định ngày 05/4/2024".
- Tịch thu của bị cáo Vũ Minh T 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Vsmart, màn hình cảm ứng, bên trong lắp sim Viettell số 0985.509.xxx, thân máy có nhiều vết trầy xước, máy cũ đã qua sử dụng để sung quỹ nhà nước.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có của bị cáo Vũ Minh T (do vợ T giao nộp).
(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).
- Truy thu sung quỹ nhà nước của bị cáo Vũ Minh T số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo Vũ Minh T, Ma Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Ma Quốc Thể - Trần Hữu Lượng | Hoàng Thị Minh Khánh |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V.M.T + M.V. H phạm tội Mua bán và tãng trữ trái phép chất ma túy (251 + 249)
