Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19/8/2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Sơn Tây.

Ông Nguyễn Thanh Cần.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 249/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/6/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Võ Thị Thu S năm 1995; địa chỉ thường trú: tổ A, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dươngđịa chỉ liên hệ: số F, đường N, khu dân cư P, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dươngcó đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: ông Vòng Nhục D năm 1989; địa chỉ thường trú: tổ A, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dươngvắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Thu S1 trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: bà S và ông VNhục D1 đăng ký kết hôn vào ngày 23/3/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, tỉnh Đồng Naitheo Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, lớn tiếng với nhau. Nguyên nhân mâu

thuẫn là do ông D2 người phụ nữ khác, thường xuyên đi làm sớm về khuya, không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình; không tôn trọng bà S. Vì thế đầu năm 2021, vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Bà S nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông D

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Vòng Như Nsinh ngày 27/12/2015 và Vòng Lý S1sinh ngày 11/12/2018. Hiện 02 con đang ở với bà S2 khi ly hôn bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: tại đơn khởi kiện, bà S yêu cầu ông D4 dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con 5.000.000 đồng/tháng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/7/2024, ba Sương thay đổi yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi con, chỉ yêu cầu ông D4 dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: có tài sản chung và nợ chung nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Vòng N D: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.

- Về nội dung vụ án: bà Võ Thị Thu S1 và ông VNhục Dưỡng tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Bà S xác định vợ chồng đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên mong muốn được ly hôn. Bị đơn ông D đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: bà S yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Vòng Như Nsinh ngày 27/12/2015 và Vòng Lý Slsinh ngày 11/12/2018 và yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi con 2.000.000 đồng/tháng. Xét 02 con hiện đang ở với bà S3 mức yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

  1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án hôn nhân và gia đình, bị đơn sinh sống tại tổ A, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  2. Sự tham gia phiên tòa của các đương sự: bị đơn ông Vòng N D đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ lần thứ hai các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Võ Thị Thu S4 ông VNhục D1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, tỉnh Đồng Naitheo Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2015 ngày 23/3/2015, là hôn nhân hợp pháp.

    Nguyên đơn bà Võ Thị Thu S5 định, mâu thuẫn vợ chồng là do ông VNhục D1 có người phụ nữ khác, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Bà S và ông D hiện tại đã ly thân và cả hai đều không đưa ra được biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà S xác định không còn tình cảm với ông D và yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, ông D không đến Tòa án cho thấy ông không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, đồng thời bà S kiên quyết xin ly hôn. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà S và ông D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà S yêu cầu ly hôn với ông D là có cơ sở chấp nhận.

  2. Về con chung: bà S và ông D có 02 con chung tên Vòng Như Nsinh ngày 27/12/2015 và Vòng Lý S1sinh ngày 11/12/2018. Khi ly hôn, bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông D4 dưỡng nuôi 02 con, mỗi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

    Hội đồng xét xử thấy:

    sau khi vợ chồng sống ly thân, bà S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu Vòng N1 Nvà Vòng L. Do đó, yêu cầu của bà S6 nuôi dưỡng 02 cháu N2 S1là có căn cứ chấp nhận. Bà S7 cầu ông D cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp. Ông D đã được Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt hợp lệ lần thứ hai thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập lấy lời khai; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông D

đều không có mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà S. Mặc nhiên, ông D đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình cũng như không phản đối yêu cầu, ý kiến của bà S8 ra. Do đó, yêu cầu cấp dưỡng của bà S9 có căn cứ.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
  3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: các đương sự phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 147, 227, 228, 238, 266, 269, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu S1 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Vòng N D.

    Về quan hệ hôn nhân: bà Võ Thị Thu S1 được ly hôn với ông Vòng N D.

    Về con chung: giao con chung tên Vòng Như Nsinh ngày 27/12/2015 và Vòng Lý S1sinh ngày 11/12/2018 cho bà Võ Thị Thu S1 trực tiếp nuôi dưỡng.

    Võ Thị Thu S1 và ông Vòng Nhục D5 có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông Vòng N D phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung Vòng Như Nsinh ngày 27/12/2015 và Vòng Lý S1sinh ngày 11/12/2018, mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 19/8/2024 đến khi con Vòng N1 NVòng Lđủ 18 tuổi.

    Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

  2. Về án phí sơ thẩm:

Về án phí ly hôn: bà Võ Thị Thu S1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001623 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Về án phí cấp dưỡng nuôi con: ông Vòng N D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự (2);
  • - UBND thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ, 8.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger