TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/DS-ST Ngày: 19-4-2024 |
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và bà Dương Thị Thúy Duy
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện viên kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 329/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST - DS ngày 08 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 155/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Đồng nguyên đơn:
- Ông Hồ Vũ Q, sinh năm 1991 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1992 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số A, đường T, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
Đồng bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1972 (có mặt);
- Ông Lê Văn T2, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ B, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ kèm theo nguyên đơn ông Hồ Vũ Q, bà Nguyễn Thanh T1 trình bày: Ông Q, bà T1 có kinh doanh Cửa hàng vật liệu xây dựng theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 52D8006671, đăng ký lần đầu ngày 28/11/2017, tên hộ kinh doanh Thảo Q1, người đại diện hộ là bà Nguyễn Thanh T1. Từ tháng 4 đến tháng 6/2023 ông Q1, bà T1 có bán vật liệu xây dựng cho bà L, ông T2 với mục đích xây nhà. Sau khi các bên giao nhận hàng xong thì tổng số tiền nợ mà bà L, ông T2 nợ nguyên đơn là 307.949.000₫ (Ba trăm lẻ bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng) theo 05 hóa đơn bán hàng gồm các ngày 26/4/2023; 09/5/2023; 19/5/2023; 30/5/2023 và 06/6/2023. Nguyên đơn yêu cầu bà L, ông T2 có nghĩa vụ trả 307.949.000₫ (Ba trăm lẻ bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng) và lãi suất 0,8%/tháng từ ngày 06/6/2023 đến ngày nộp đơn 24/4/2023 là 2.463.592₫ (Hai triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm chín mươi hai đồng) và tiếp tục tính lãi đến thời điểm xét xử. Nguyên đơn không đồng ý khấu trừ số tiền 46.205.000₫ (Bốn mươi sáu triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng) theo yêu cầu của bà L.
Theo bản tự khai ngày 30/01/2023 bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày: Yêu cầu ông Q1, bà T1 xuất trình 05 hóa đơn hợp pháp có xác nhận của cơ quan thuế, xác định có mua bán vật liệu xây dựng, thỏa thuận xây cất nhà xong sẽ trả tiền và các bên không tính lãi, tuy nhiên nguyên đơn tự ý chấm dứt hợp đồng, không giao vật liệu xây dựng cho bà nữa nên bà bắt buộc mua chỗ khác làm chênh lệch giá, gây thiệt hại. Ngày 17/01/2024, bà L tiếp tục có văn bản tường trình với nội dung yêu cầu nguyên đơn khấu trừ số tiền chênh lệch là 46.205.000đ (bốn mươi sáu triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng), đây là số tiền mà bà L bị thiệt hại do phải mua vật tự ở nơi khác cao hơn so với mua bên phía nguyên đơn, kèm theo là đơn hàng đặt gạch ngày 10/7/2023 với Công ty TNHH T4 (bản phô tô).
Theo Biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ các đương sự thống nhất với các chứng cứ giao nộp, không có ý kiến, không yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng.
Trong vụ án này, bị đơn ông Lê Văn T2 không có mặt theo các văn bản triệu tập của Tòa nên không ghi nhận được ý kiến và ông T2 cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Để đảm bảo quyền lợi của ông T2, Tòa án đã đến nhà làm việc nhưng ông T2 từ chối cung cấp ý kiến. Ngoài ra Tòa án đã ban hành Thông báo số 65/TB-TA ngày 17/01/2024 yêu cầu bị đơn giao nộp, bổ sung tài liệu, chứng cứ, tuy nhiên ông T2 vẫn không cung cấp và không có ý kiến; Thông báo số 66/TB-TA ngày 17/01/2024 yêu cầu đương sự bổ sung đơn phản tố nhưng đương sự không cung cấp.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an thị trấn L cung cấp ngày 24/01/2024: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1972 và ông Võ Văn T3, sinh năm 1968 cùng có nơi thường trú và chỗ ở hiện tại khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; Theo Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn L qua tra cứu tàng thư hộ tịch giai đoạn từ ngày 01/01/2005 đến ngày 01/4/2024 thì ông T3, bà L không có tên trong sổ bộ đăng ký kết hôn của thị trấn L.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà T1 yêu cầu bà L, ông T3 trả số tiền 307.949.000₫ (Ba trăm lẻ bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng), xác định rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn trả lãi; ông Q1 rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bởi theo ông người đại diện theo Giấy đăng ký hộ kinh doanh Thảo Q1 là bà Nguyễn Thanh T1, nên yêu cầu Tòa án buộc bà L, ông T3 trả nợ cho bà T1.
Bà L xác định có mua vật liệu xây dựng của ông Q1, bà T1 để xây cất nhà; xác định chữ ký trong hóa đơn giao hàng là của ông T3. Tuy nhiên do bên nguyên đơn tự ý chấm dứt hợp đồng không giao hàng nữa, bà phải mua vật liệu xây dựng nơi khác làm chênh lệch giá nên bà yêu cầu khấu trừ số tiền 46.205.000₫ (Bốn mươi sáu triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng), phần còn lại bà đồng ý trả.
Ông T3 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông T3 theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà L và ông T3 có trách vụ trả lại số tiền 307.949.000 đồng còn nợ từ việc mua bán vật liệu xây dựng từ tháng 4 đến tháng 6/2023. Khi khởi kiện, nguyên đơn có cung cấp các hóa đơn bán hàng của Cửa hàng T5. Bị đơn bà L thừa nhận có sự việc mua bán vật liệu xây dựng giữa các bên, bà cho rằng nếu ông Q1 và bà T1 đồng ý khấu trừ số tiền 46.205.000 đồng vào hóa đơn thì phần còn lại bà sẽ thanh toán. Như vậy, có căn cứ xác định bà L hiện còn nợ nguyên đơn số tiền 307.949.000 đồng.
Theo kết quả xác minh thì ông T3 là chồng của bà L, ông T3 và bà L không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc mua bán giữa các bên chủ yếu do ông T3 thực hiện, nhưng bà L thừa nhận nợ và xác nhận mục đích việc mua vật liệu xây dựng là nhằm xây cất căn nhà mà bà L và ông T3 cùng sinh sống, do dó, bà L và ông T3 phải có trách nhiệm liên đới trong việc trả số tiền nợ cho nguyên đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 288 Bộ luật dân sự. Bà L yêu cầu khấu trừ số tiền 46.205.000 đồng vào hóa đơn mà phía nguyên đơn khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án có Thông báo yêu cầu bị đơn nộp đơn phản tố đối với nội dung yêu cầu, nhưng đến nay phía bị đơn vẫn không cung cấp, do đó, không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Như vậy, có cơ sở xác định giữa nguyên đơn với bà Nguyễn Thị Mỹ L - ông Lê Văn T2 có hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng với nhau, và hiện ông T2, bà L còn nợ phía nguyên đơn số tiền 307.949.000 đồng, nên việc nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T1 – Đại diện hộ kinh doanh, khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ L - ông Lê Văn T2 phải trả số tiền nói trên là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 430, 440 BLDS năm 2015.
Ông Hồ Vũ Q là chồng của bà Nguyễn Thanh T1, bà T1 là đại diện hộ kinh doanh, việc mua bán giữa các bên chủ yếu là do bà T1 thực hiện, ông Q không có tham gia vào việc mua bán giữa các bên. Do đó, việc nguyên đơn ông Hồ Vũ Q khởi kiện yêu cầu ông T2, bà L nghĩa vụ trả số tiền 307.949.000 đồng là không có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông Hồ Vũ Q tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông T2 và bà L. Xét thấy, việc ông Q rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu mà ông Q đã rút.
Tại phiên tòa bà T1 cũng tự nguyện rút lại yêu cầu về việc tính lãi suất. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự và có lợi cho bị đơn, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu mà đương sự đã rút.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Từ phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Vũ Q về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ L - ông Lê Văn T2 phải trả số tiền 307.949.000 đồng cùng tiền lãi chậm trả; Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu của đương sự về việc tính lãi suất; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T1, buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L - ông Lê Văn T2 phải trả cho bà T1 số tiền 307.949.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Hồ Vũ Q và bà Nguyễn Thanh T1 khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Lê Văn T2 trả số tiền mua bán vật liệu xây dựng còn nợ. Xác định đây là tranh chấp dân sự, hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà L, ông T2 cư trú tại khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về tư cách đương sự: Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng tài liệu kèm theo mà nguyên đơn cung cấp, Giấy chứng nhận hộ đăng ký kinh doanh số 52D8006671, đăng ký lần đầu ngày 28/11/2017 thì người đại diện hộ kinh doanh là bà Nguyễn Thanh T1. Theo khoản 1 Điều 79, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doang nghiệp thì cá nhân là người đại diện hộ kinh doanh để tham gia các giao dịch dân sự, như vậy trong vụ án này bà Nguyễn Thanh T1 – Chủ hộ kinh doanh Thảo Q1 là người đại diện. Ông Hồ Vũ Q do là chồng bà T1 theo Giấy đăng ký kết hôn số 01/2014 ngày 02/10/2014 của Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, trong vụ án này bà T1 thống nhất để ông Q cùng tham gia khởi kiện, bởi các đương sự xác định việc kinh doanh từ nguồn tài sản chung vợ chồng nên cùng đứng đơn với tư cách cá nhân, xác định bà T1 và ông Q là đồng nguyên đơn. Bà L, ông T2 là người bị kiện xác định là đồng bị đơn.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Hợp đồng mua bán giữa các đương sự tuy không lập thành văn bản nhưng việc giao kết hợp đồng trên thực tế theo nguyên tắc tự nguyện phù hợp với pháp luật nên xem là hợp đồng hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Vũ Q và bà Nguyễn Thanh T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Thông qua lời trình bày của bà L thể hiện có sự việc mua bán vật liệu xây dựng giữa các đương sự, mục đích mua bán là để xây cất căn nhà mà gia đình bà L đang sinh sống hiện nay. Theo nội dung Tờ tường trình và tại phiên tòa bà L trình bày nếu ông Q và bà T1 đồng ý khấu trừ số tiền 46.205.000đ (Bốn mươi sáu triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng) vào hóa đơn thì phần còn lại bà sẽ thanh toán. Như vậy, bà L không tranh chấp số tiền trong 05 hóa đơn bán hàng các ngày 26/4/2023; 09/5/2023; 19/5/2023; 30/5/2023 và 06/6/2023 mà nguyên đơn cung cấp, bà chỉ yêu cầu khấu trừ số tiền 46.205.000₫ (Bốn mươi sáu triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng), bà cho rằng đây là số tiền bồi thường thiệt hại do nguyên đơn tự ý chấm dứt hợp đồng. Xét thấy đây là yêu cầu phản tố của bị đơn, tuy nhiên bị đơn không bổ sung đơn phản tố để Tòa án thụ lý theo quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà L cung cấp đơn đặt hàng gạch ngày 10/7/2023 của Công ty TNHH T4, Hội đồng xét xử nhận thấy hóa đơn chỉ chứng minh được bà L có mua gạch từ nơi khác, còn việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại của các bên như thế nào thì bị đơn vẫn chưa cung cấp chứng cứ được cho Tòa án.
Quá trình giải quyết, ông T2 không đến Tòa án, cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Khi Tòa án đến nhà thì ông T2 từ chối cung cấp ý kiến theo Biên bản sự việc ngày 08/3/2024 có xác nhận địa phương; Tòa án ra Thông báo số 65/TB-TA ngày 17/01/2024 yêu cầu ông T2 giao nộp tài liệu, chứng cứ nhưng ông T2 vẫn không cung cấp. Tòa án xác minh nơi cư trú xác định bà L, ông T2 vẫn còn đăng ký thường trú tại khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; ông T2 và bà L không có đăng ký kết hôn. Xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà L, ông T2 trả số tiền 307.949.000đ (ba trăm lẻ bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng), ông T2 biết nhưng không có ý kiến phản đối, đây được xem là tình tiết, sự kiện nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình thực hiện hợp đồng đến nay bà L, ông T2 chưa thanh toán tiền cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo khoản 1 Điều 440 Bộ luật dân sự 2015, do đó việc nguyên đơn yêu cầu bà L, ông T2 có nghĩa vụ trả số tiền 307.949.000₫ (Ba trăm lẻ bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng) là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.
Trong vụ án này nguyên đơn bà T1 rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu tính lãi, điều này là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Q rút lại yêu cầu khởi kiện, do bà T1 là người đại diện hộ kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký Hộ kinh doanh Thảo Quân, xét việc rút yêu cầu là phù hợp quy định pháp luật nện Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà L, ông T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 5, Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Các Điều 288, Điều 430, Điều 440, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Vũ Q đối với bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Lê Văn T2.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T1 về việc yêu cầu trả lãi đối với bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Lê Văn T2.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T1.
Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Lê Văn T2 trả cho bà Nguyễn Thanh T1 số tiền 307.949.000đ (Ba trăm lẻ bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.
- Về án phí: Nguyễn Thị Mỹ L và ông Lê Văn T2 liên đới chịu 15.397.450đ (Mười lăm triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
H lại cho ông Hồ Vũ Q và bà Nguyễn Thanh T1 số tiền 7.761.000₫ (Bảy triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà T1, ông Q đã nộp theo Biên lai thu số 0009074 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/4/2024). Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo trong thời hạn trên kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Thị Chúc Phương |
Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 84/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng
