Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HSST

Ngày: 18 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Song Bình

Các hội thẩm nhân dân : 1/ Bà Nguyễn Thị Nhung

2/ Bà Nguyễn Thị Kiều Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Phương– Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68 /2024/HSST ngày 16 tháng 5 năm 20 24 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng D - sinh năm: 1989, tại tỉnh Tiền Giang

- Nơi cư trú: Số A Ấp B, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

- SỐ CMND/CCCD/Hộ chiếu: [...], cấp ngày 12/6/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: nam

- Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam

- Con ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị Thu A

- Chưa có vợ, con

- Nhân thân: Ngày 29/12/2023 bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 03 năm tù về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”(Bản án số 60/2023/HSST), bị cáo chưa đi chấp hành án thì tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này.

- Tiền sự: không. Tiền án: không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay (có mặt).

* Người làm chứng: Võ Thị S, sinh năm 1968 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số H, ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Lúc 11 giờ 50 phút ngày 23/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang phối hợp với Công an xã T, thành phố M kiểm tra phòng trọ không số thuộc tổ H, ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang do Nguyễn Trọng D thuê ở phát hiện bắt quả tang D đang tàng trữ trái phép 03 bịch chất ma túy trong phòng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 đoạn ống hút quấn băng keo đen được cho vào bì thư màu trắng niêm phong lại có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trọng D, Trần Phúc T và dấu tròn màu đỏ ghi Công an xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Kí hiệu I.
  • 02 gói nylon màu trắng hàn kín (một gói có viền màu xanh) bên trong chứa tinh thể màu trắng được gói trong khẩu trang y tế màu xám. Tất cả cho vào bì thư màu trắng niêm phong lại có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trọng D, Trần Phúc T và dấu tròn màu đỏ ghi Công an xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Kí hiệu II.
  • 01 cuộn băng keo đen
  • 01 chai nhựa Sting, nắp đỏ có gắn ống hút nhựa màu cam và ông thủy tinh..
  • 01 cân tiểu ly điện tử màu đen.

* Kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Gói 1( kí hiệu I): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1596gam, loại Methamphetamine; Gói 2( kí hiệu II): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,8193 gam, loại Methamphetamine (trong đó mẫu kí hiệu M2.1 có khối lượng 0,7651 gam; mẫu kí hiệu M2.2 có khối lượng 2,0542 gam)

Bị cáo Nguyễn Trọng D khai nhận: Khoảng 19 giờ, ngày 22/01/2024, D đi xe ôm từ nhà trọ đến gần bến phà R cũ ở huyện C, tỉnh Bến Tre gặp một người tên N (không rõ họ tên, địa chỉ, số điện thoại) hỏi mua 01 triệu đồng ma túy đá thì N đưa cho D 01 bịch ma túy. D đem về phòng trọ Dinh thuê thuộc tổ H, ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang phân chia thành 03 bịch nhỏ (có 01 bịch quấn băng keo đen) bỏ vào khẩu trang màu xám rồi để trên kệ gỗ trong phòng. Đến trưa ngày 23/01/2024 D lấy bịch ma túy có quấn băng keo đen ra định sử dụng thì lực lượng công an đến kiểm tra nên D ném bịch ma túy này xuống nền gạch cạnh cửa ra vào nhưng bị Công An phát hiện bắt quả tang tất cả ma túy trên. Mục đích D mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, tiền mua ma túy của D, không ai khác biết D tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKSMT ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Trọng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trọng D về tội danh và khung hình phạt, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là thành khẩn khai báo. Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo D từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng D khai nhân hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét; lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó đủ cơ sở kết luận vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 23/01/2024, tại phòng trọ không số thuộc tổ H, ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nguyễn Trọng D bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 2,9789 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng; Vì vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Trọng D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện và ảnh hưởng xấu đến tình hình an toàn xã hội ở địa phương, về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây tác hại xấu đến xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, vì vậy cần xử lý bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tích chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt 3 năm tù theo Bản án số 60/2023/HSST ngày 29/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã có hiệu lực pháp luật.

[7] Đối với người thanh niên tên N đã bán ma túy cho bị cáo D, do bị cáo D không rõ họ, tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 cuộn băng keo đen đã qua sử dụng, 01 chai nhựa có chữ Sting, nắp màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu cam và ống thủy tinh bị cáo sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 cân tiểu ly điện tử màu đen đã qua sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

[10] Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng D 03 (ba) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù được trừ vào thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022 đến ngày 25/5/2023 theo Bản án số 60/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 23/01/2024 được trừ vào thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022 đến ngày 25/5/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ:

  • 02 (hai) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 14/1 và 14/2 ghi ngày 25/01/2024 có các chữ ký in họ tên : Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Nguyễn Quốc P(Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Đoàn Minh K (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng K1 - Công an tỉnh T.
  • 01 cuộn băng keo đen đã qua sử dụng.
  • 01 chai nhựa có chữ Sting, nắp màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu cam và ống thủy tinh.

Tich thu sung quỹ nhà nước: 01 cân tiểu ly điện tử màu đen đã qua sử dụng.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang)

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 04/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang.
  • - VKSND tỉnh TG.
  • - Sở Tư pháp tỉnh TG.
  • - VKSND Tp Mỹ Tho.
  • - Chi cục THA dân sự Tp Mỹ Tho.
  • - Bị cáo.
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

Thẩm phán -Chủ toạ phiên tòa

Nguyễn Song Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 84/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng D - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger