Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-8- 2024

“V/v xin ly hôn,

tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên
  • Bà Trần Thu Trang

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy- Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 253/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bé N, sinh năm: 1982 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
  2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn D; sinh năm: 1979 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp X, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại Tòa án của nguyên đơn là Võ Thị Bé N:

Bà Võ Thị Bé N và ông Huỳnh Văn D qua tìm hiểu tự nguyện chung sống với nhau, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới vào tháng 01/2003 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống hạnh phúc và có hai người con chung là Huỳnh Võ Thị Việt N1, sinh ngày 29/10/2005 và Huỳnh Võ Việt N2, sinh ngày 30/10/2007. Tuy nhiên, trong thời gian khoảng 02 năm gần đây, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cự cải bất hòa nhau, không còn tình cảm vợ chồng để cùng xây dựng gia đình, chăm lo các con. Nay bà N nhận thấy không thể tiếp tục chung sống hôn nhân với ông D được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Về con chung: Bà N và ông D có hai người con chung là Huỳnh Võ Thị Việt N1, sinh ngày 29/10/2005 và Huỳnh Võ Việt N2, sinh ngày 30/10/2007. Đối với cháu Việt N1, đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, đối với cháu Việt Nam, bà N yêu cầu được nuôi dưỡng, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà N xác định bà và ông D không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà N xác định bà và ông D không có nợ ai và cũng không có ai nợ ông bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn- ông Huỳnh Văn D: Vắng mặt và không ý kiến.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn - ông bà Võ Thị Bé N giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Huỳnh Văn D. Vợ chồng có hai người con chung là Huỳnh Võ Thị Việt N1, sinh ngày 29/10/2005 và Huỳnh Võ Việt N2, sinh ngày 30/10/2007. Huỳnh Võ Việt N1, đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, Huỳnh Võ Việt N2, bà N yêu cầu được nuôi dưỡng, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có con chung, không có nợ chung.

- Bị đơn – ông Huỳnh Văn D: Vắng mặt.

* Vị Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Tuy vụ án có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng việc vi phạm không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án xét thấy nguyên đơn là bà Võ Thị Bé N và bị đơn ông Huỳnh Văn D tự nguyện chung sống nhưng không đăng ký kết hôn nên căn cứ vào Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kết hôn để giải quyết theo quy định pháp luật.

- Về con chung là Huỳnh Võ Thị Việt N1, sinh ngày 29/10/2005 và Huỳnh Võ Việt N2, sinh ngày 30/10/2007. Huỳnh Võ Thị Việt N1, đã thành niên nên không xem xét quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng. Đối với Huỳnh Võ Việt N2, bà N có yêu cầu nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cháu N2 nên giao cháu Huỳnh Võ Việt N2 cho bà N nuôi dưỡng. Các bên có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: xác định không có tài sản chung và không có nợ chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị Bé N có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Huỳnh Văn D. Bị đơn ông Huỳnh Văn D cư trú tại ấp X, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là vụ kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Nguyên đơn- bà Võ Thị Bé N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn - ông Huỳnh Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Võ Thị Bé N: Bà Võ Thị Bé N và ông Huỳnh Văn D tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Bà N khởi kiện xin ly hôn ông D với lý do: Giữa bà N và ông D hôn nhân không còn hòa hợp, vợ chồng không còn yêu thương, chăm lo cho nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Theo biên bản xác minh ngày 04/01/2024 của Tòa án tại địa phương bà N và ông D có phát sinh mâu thuẫn trong hôn nhân và đã sống ly thân nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải, động viên để vợ chồng đoàn tụ và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nhưng ông D vắng mặt các phiên hòa giải, không có ý kiến nên Tòa án không hòa giải được. Do đó, căn cứ vào Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kết hôn để giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Bà Võ Thị Bé N xác định bà và ông Huỳnh Văn D có hai người con chung là Huỳnh Võ Thị Việt N1, sinh ngày 29/10/2005 và Huỳnh Võ Việt N2, sinh ngày 30/10/2007. Xét Huỳnh Võ Thị Việt N1, đã thành niên nên không xem xét quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng. Đối với Huỳnh Võ Việt N2, bà N có yêu cầu nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cháu N2 (tại văn bản ghi nhận ý kiến ngày 05/6/2024) nên giao cháu Huỳnh Võ Việt N2 cho bà N nuôi dưỡng. Các bên có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Bé N xác định bà và ông D không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bà N phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn Điều 14; Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 58; Điều 81; Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Võ Thị Bé N và ông Huỳnh Văn D.
  2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Võ Việt N2 cho bà N nuôi dưỡng, bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Bé N xác định bà và ông D không có nên không xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn bà Võ Thị Bé N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008913 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Bà N đã nộp đủ.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện An Biên;
  • - THADS huyện An Biên;
  • - UBND xã nơi cư trú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (Dương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trần Mộng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 17/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger