Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Vân

Bà Mai Thị Duyên

- Thư ký phiên toà:

Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Tại điểm cầu thành phần: Bà Ngô Trần Phương T - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng và tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an quận H xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 20/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 02/7/2024, đối với bị cáo:

Trịnh Văn Đ, sinh ngày 14/10/1990, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn A, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Số HP, Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T1, con bà Trịnh Thị C (đã chết); vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn); có 02con, con lớn sinh năm 2015 và con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 19/03/2024 đến ngày 25/03/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Hoàng Đức V; vắng mặt;
  2. Ông Nguyễn Ngọc H1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19 tháng 03 năm 2024, Đ đi “xe ôm” từ nhà đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng mua 500.000 đồng ma tuý “đá” của 01 người nam thanh niên không quen biết. Sau đó, Đ cất túi nilon chứa ma tuý vào túi quần dài phía sau bên trái đang mặc rồi đi “xe ôm” của 01 người khác về đến khu vực chợ Đ2, phường Đ, quận H, TP Hải Phòng để tìm mua đồ ăn và đi bộ về nhà để sử dụng ma tuý. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, Đ đi đến trước cửa số nhà C đường P, phường Đ, quận H thì bị tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra hành chính, Đ tự nguyện lấy từ trong túi quần phía sau bên trái đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước 2cm x 2cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma tuý “đá” Đồng mua về để sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, đưa Đ về trụ sở Công an phường Đ lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Kết quả xét nghiệm nhanh mẫu nước tiểu ngày 19/03/2024: “Xác định Trịnh Văn Đ dương tính với chất ma túy Methamphetamine”.

Tại Bản kết luận giám định số 330/KL-KTHS ngày 21/03/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,29 gam”.

Tại Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 19 tháng 06 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo Trịnh Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 17 tháng đến 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư niêm phong số 330MT/ PC09 - Công an T.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội; lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bởi Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Đ lập hồi 13h10' ngày 19/3/2024, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định chất ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12h20' ngày 19/3/2024, tại trước cửa nhà số C đường P, phường Đ, quận H, Trịnh Văn Đ1 hành vi tàng trữ trái phép 0,29 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân và bị phát hiện, bắt quả tang. Bởi vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Do vậy, cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự;

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báonên có tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

[7] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng là đối tượng nghiện chất ma túy. Nguyên nhân của việc phạm tội cũng do xuất phát từ tình trạng nghiện ngập, lệ thuộc vào các chất ma túy, không kiểm soát được bản thân. Bởi vậy, cần phải áp dụng hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo theo quy định của pháp luật;

[8] Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như trên; Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung;

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không chứng minh được bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung;

[10] Về xử lý vật chứng: Xét lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đựng 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 330MT/PC09 - Phòng K Công an thành phố H, là chất ma túy mà Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

[11] Đối vớingười nam giới đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố Trịnh Văn Đồng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt:Trịnh Văn Đồng 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/3/2024.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định, đựng trong 01 bì thư có dấu niêm phong số 330MT/PC09 - của Phòng K Công an thành phố H (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2024);

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - Công an quận Hải An,
  • THA Hình sự, Dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy Trịnh Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger