Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 17/6/2024

Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Quốc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Phương Lan

Ông Nguyễn Văn Đoạt

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn đất tham phiên tòa: Không.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 689/2023/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 25/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thị D, sinh năm 1996 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 2, ấp M, xã S, huyện H, tỉnh K.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thị D trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Thị D và anh Nguyễn Văn T quen biết nhau là do mai mối, sau đó được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30/11/2015. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì xảy ra mâu thuẫn do anh T thường xuyên ăn nhậu, không chăm lo cho gia đình còn đánh đập chị D vô cớ, nên chị D và anh T đã sống ly thân hơn 04 năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được. Do đó, chị Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Chị Thị D và anh Nguyễn Văn T có 01 người con chung tên Nguyễn Đình T, sinh ngày 13/8/2016, hiện nay đang ở cùng anh T. Ly hôn, chị D đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Thị D xác định chị và anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ chung: Chị Thị D xác định chị và anh T không có nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định cho anh Nguyễn Văn T nhưng anh T vẫn vắng mặt, do đó không có lời khai của anh Nguyễn Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định vụ án này như sau:

[1] Về thẩm quyền: Theo nội dung đơn xin ly hôn của chị Thị D thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại khu phố Tà Lúa, thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất nên quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về hôn nhân: Chị Thị D và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng hợp pháp do đã được UBND thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30/11/2015. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của chị D và anh T mà chị D đã giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa chị Thị D và anh Nguyễn Văn T phát sinh mâu thuẫn do anh T thường xuyên ăn nhậu, không chăm lo cho gia đình còn đánh đập chị D vô cớ, nên chị D và anh T đã sống ly thân hơn 04 năm nay. Hiện nay, mỗi người có cuộc sống riêng và không quan tâm hay hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh T để tham gia các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do và không có lời khai của anh T. Điều đó chứng tỏ anh T không có thiện chí làm việc, gặp gỡ nguyên đơn, không có giải pháp hợp lý nhằm khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ; trong khi đó chị D xác định không còn tình cảm, không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với anh T và kiên quyết xin ly hôn. Vì vậy, đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị D ly hôn anh T theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.

[3.2] Về con chung: Chị Thị D và anh Nguyễn Văn T có 01 người con chung tên Nguyễn Đình T, sinh ngày 13/8/2016, hiện đang ở cùng anh T. Chị D đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Trí từ trước đến nay đều sống với anh T, do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi chị và anh T sống ly thân với nhau. Đồng thời, chị Thị D cũng đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng và phù hợp với nguyện vọng của cháu Trí là được ở cùng cha (anh T) khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị Thị D giao con chung tên Nguyễn Đình T cho anh Nguyễn Văn T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản chung: Chị Thị D không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.4] Về nợ chung: Chị Thị D không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.5] Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 277, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị D ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Đình T, sinh ngày 13/8/2016 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Thị D có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung: Chị Thị D không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
  2. Về nợ chung: Chị Thị D không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003995 ngày 28/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó chị Thị D không phải nộp thêm.
  4. Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS nhân dân huyện Hòn Đất;
  • - UBND TT Sóc Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Quốc Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST. ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Thị D, sinh năm 1996 . Địa chỉ: tổ 2, ấp M, xã S, huyện H, tỉnh K. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 Địa chỉ: khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh K.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger