Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 84/2024/DS-ST

Ngày : 17-4-2024

“Về việc tranh chấp hợp đồng vay

tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Thị Thu Thủy;
  2. Ông Nguyễn Hoàng Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Hợp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 184/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 177/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1965; địa chỉ: Số E, tổ B, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt)
  2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị P; sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai cùng đề ngày 07/6/2023 và quá trình tổ tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày như sau:

Vào ngày 02/02/2015, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C có hỏi vay dùm cho bị đơn bà Đỗ Thị P vay số tiền 34.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng. Nhưng đến nay bà P không trả, do đó nguyên đơn bà C phải đóng lãi dùm với số tiền là 18.000.000 đồng, đến nay điện thoại và liên lạc với bà P không được nữa. Nay nguyên đơn bà C yêu cầu bị đơn bà P phải trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền là 52.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đỗ Thị P: Đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, đúng quy định pháp luật nhưng bà P vắng mặt, không đến Tòa án trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của Bà P.

Tại phiên tòa:

  • Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C: Nguyên đơn rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay 7.000.000 đồng và rút lại yêu cầu tính lãi đối với số tiền lãi là 18.000.000 đồng. Nguyên đơn bà C chỉ yêu cầu bị đơn bà P trả tiền vay là 27.000.000 đồng theo biên nhận bà P ký nhận với bà C.
  • Bị đơn bà Đỗ Thị P: Vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người tham gia tố tụng trong quá giải quyết vụ án và nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn Toà án đã triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ và đúng quy định nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền vay 7.000.000 đồng, đối với tiền lãi là 18.000.000 đồng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đã rút.

Đối với yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn bà P trả 27.000.000 đồng tiền vay, nhận thấy bị đơn bà P có ký nhận vay của nguyên đơn bà C số tiền 27.000.000 đồng trong thời hạn 01 tháng. Đây là hợp đồng vay có thời hạn, đã hết thời hạn 01 tháng nhưng đến nay bị đơn bà P không trả là vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C buộc bị đơn bà P trả tiền vay 27.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C.

2

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà C không yêu cầu trả lãi đối với khoản tiền vay 27.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí, quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên toà, nguyên đơn Nguyễn Thị C có mặt, bị đơn bà Đỗ Thị P đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hợp đồng vay tài sản:

Nguyên đơn bà C yêu cầu bị đơn bà P trả khoản vay 27.000.000 đồng: Hội đồng xét xử nhận thấy tại tài liệu, chứng cứ vào ngày 02/02/2015 bà P có ký nhận vay tiền của bà C là 27.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng. Như vậy, đây là hợp đồng vay, có thời hạn, không thỏa thuận lãi. Đã hết thời hạn theo thỏa thuận nhưng bà P không trả tiền vay vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương và mẹ của bà P1 cung cấp thông tin về việc bà P có vay tiền của bà C nhưng chưa trả tiền vay. Đồng thời, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn bà P nhưng bà P hoàn toàn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 của Bộ luật dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C là hoàn toàn có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu tính lãi:

3

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà C tự nguyện rút lại yêu cầu trả lãi với số tiền 18.000.000 đồng. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đã rút.

[3] Về án phí: Bị đơn bà P chịu án phái theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228; khoản 2 Điều 244; khoản 1 Điều 273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  • Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C đối với khoản tiền vay 7.000.000 đồng; tiền lãi 18.000.000 đồng.
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu bị đơn bà Đỗ Thị P trả tiền vay là 27.000.000 đồng.
  • Buộc bị đơn bà Đỗ Thị P trả tiền vay là 27.000.000 đồng cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Đỗ Thị P phải chịu 1.350.000 đồng. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C được nhận lại 1.300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số: TU/2022/0015393 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Phú.

Về quyền kháng cáo: bà Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Đỗ Thị P vắng mặt tại phiên tòacó quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh An Giang;
  • VKSND huyện Châu Phú;
  • Chi Cục THA DS Châu Phú;
  • Đương sự;
  • Lưu hồ sơ, VP.

5

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yến Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 84/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger