Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS - ST

Ngày 16 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thân Văn Nhàn, bà Nguyễn Thị Lại;

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Vân Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 21/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 03/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 2002.

Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 11/12.

Bố: Nguyễn Văn H1.

Mẹ: Vi Thị S.

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Vợ, con: Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên toà)

* Bị hại: Anh Lê Minh D, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977. Địa chỉ: thôn C, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên tòa)

2. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên tòa)

* Người làm chứng: Anh Phùng Văn K, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H, sinh năm 2002 và anh Lê Minh D, sinh năm 1999 cùng trú tại thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang có quan hệ quen biết nhau. Ngày 08/11/2023, H đến phòng trọ của anh D ở tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang chơi. Khoảng 14 giờ ngay 11/11/2023, H hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WinnerX, biển kiểm soát 98H1-366.35 của anh D để đi ăn cỗ ở xã T, thành phố B thì anh D đồng ý. Anh D1 giao xe và chìa khóa xe cho H. Khoảng 20 giờ cùng ngày, không thấy H trả xe nên anh D1 gọi điện thoại bảo Hoàng trả xe thì H hẹn 8 giờ ngày 12/11/2023 sẽ mang xe về trả. Ngày 12/11/2023, anh D1 không thấy H mang xe về trả nên gọi điện thoại yêu cầu H trả xe nhưng H không nghe điện thoại.

Ngày 13/11/2023, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh D1. H tự ý mang xe của anh D1 đến cửa hàng xe máy “T" ở thôn C, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang do anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 làm chủ. Theo H khai, H đặt vấn đề cầm cố xe cho anh T thì anh T hỏi về giấy đăng ký của xe. H nói dối anh T là xe của H và để quên giấy đăng ký xe ở nhà. Anh T1 xem xe rồi bảo Hoàng giá cầm cố là 8.000.000 đồng thì H đồng ý. Anh T1 đưa cho H một tờ giấy bán xe theo mẫu in sẵn rồi bảo Hoàng tự viết họ tên, địa chỉ, biển số xe, số tiền và ký vào giấy bán xe này. Sau khi Hoàng tự viết các thông tin trên vào giấy bán xe thì anh T1 đưa cho H số tiền 8.000.000 đồng rồi H giao xe cho anh T1. H sử dụng số tiền có được từ việc cầm cố xe chi tiêu cá nhân hết. Theo anh T1 khai, H bán chiếc xe trên cho anh T1 với giá 8.000.000 đồng. Anh T1 đưa cho H số tiền 8.000.000 đồng rồi H giao xe cho anh T1.

Anh Lê Minh D sau khi biết việc H mang xe đi cầm cố nên đã nhiều lần yêu cầu H trả xe nhưng H không có tiền chuộc xe. Ngày 08/01/2024, anh D có đơn trình báo Công an huyện V (nay là thị xã V. Ngày 08/01/2024, Nguyễn Văn H đến Công an huyện V (nay là thị xã V) đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Ngày 09/01/2024, anh Nguyễn Văn T giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WinnerX, biển kiểm soát 98H1- 366.35, mầu đỏ-trắng-xanh-đen, số khung RLHKC3711MY13950, số máy KC34E1292537 và 01 “giấy bán (cho, tặng) xe mô tô theo mẫu in sẵn, đề ngày 13/11/2023, trên giấy có chữ viết bằng bút mực mầu xanh, có chữ ký và chữ viết mang tên Nguyễn V H3.

Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V (nay là thị xã V) kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, biển kiểm soát 98H1- 366.35, mầu đỏ-trắng-xanh-đen, số khung RLHKC3711MY13950, số máy KC34E1292537, xe đã qua sử dụng, đăng ký năm 2022, trị giá tại thời điểm ngày 13/11/2023 là 30.500.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn H trên giấy bán xe do anh T giao nộp. Kết luận giám định số 302/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “H - Nguyễn V H3” dưới mục “Người bán” và chữ viết có nội dung “Nguyễn Văn H - Phúc Đình Phúc Hòa TYBG - 98H1 36635 - Win nơ X - Đỏ - Nguyễn Văn H” tại các dòng chữ viết từ thứ 01 đến thứ 05 (tính từ trên xuống dưới) trên tài liệu cần tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký, viết ra”.

Cơ quan điều tra cho anh Nguyễn Văn T nhận dạng ảnh Nguyễn Văn H. Kết quả anh T nhận đúng ảnh H và xác định H là người đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WinnerX, biển kiểm soát 98H1- 366.35 cho anh T ngày 13/11/2023.

Quá trình điều tra, bị cáo H khai ngày 13/11/2023 H cầm cố xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, biển kiểm soát 98H1- 366.35 cho anh T. Tuy nhiên anh T khai H đã bán xe cho anh T. Cơ quan điều tra đã cho H và anh T đối chất nhưng các bên đều giữ nguyên lời khai. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định ngày 13/11/2023, H đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, biển kiểm soát 98H1- 366.35 cho anh T với giá 8.000.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Văn T mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98H1-366.35 nhưng không biết đó là tài sản do H phạm tội mà có. Anh T1 có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mua bán, ký gửi xe máy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Về nguồn gốc chiếc xe mô nhãn hiệu Honda WinnerX, biển kiểm soát 98H1- 366.35. Kết quả điều tra xác định chiếc xe trên đăng ký chủ sở hữu là Nguyễn Văn H2, sinh năm 1994 (là anh vợ của anh D), trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Khoảng giữa năm 2022, anh H2 cho anh D mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại. Anh H2 không có yêu cầu, đề nghị gì.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ngày 28/01/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại anh Lê Minh D chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98H1-366.35. Anh Dũng không yêu cầu bồi thường dân sự. Anh T1 yêu cầu H phải trả lại số tiền 8.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09/01/2024.

Về xử lý vật chứng: Ngày 28/01/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại anh Lê Minh D chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98H1- 366.35. Anh Dũng không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 yêu cầu bị cáo phải trả cho anh T1 số tiền 8.000.000đ nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh T1 số tiền 8.000.000₫.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Ngày 11/11/2023, Nguyễn Văn H mượn của anh Lê Minh D, sinh năm 1999 trú tại thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WinnerX, biển kiểm soát 98H1- 366.35, trị giá 30.500.000 đồng và sử dụng đi lại. Ngày 13/11/2023, H tự ý cầm cố chiếc xe cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 trú tại thôn C, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang lấy 8.000.000 đồng chi tiêu cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Cơ quan điều tra đã thu hồi chiếc xe trả lại cho người bị hại.

    Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố Nguyễn Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

  3. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  4. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. Về xử lý vật chứng: Ngày 28/01/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại anh Lê Minh D chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98H1- 366.35. Anh Dũng không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 yêu cầu bị cáo phải trả cho anh T1 số tiền 8.000.000đ nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh T1 số tiền 8.000.000đ.
  7. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  8. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/01/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho anh T1 số tiền 8.000.000₫ (Tám triệu đồng).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 400.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND thị xã Việt Yên.
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang
  • - Sơ tư pháp Công an tỉnh Bắc Giang
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã Việt Yên.
  • - CCTHADS thị xã Việt Yên.
  • - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú.
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu Hồ sơ, Vp

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Trường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS - ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 84/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm Dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger