TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 15/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thế Dũng;
2. Bà Lý Thị Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phàn Thị Linh -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS, ngày 02/8/2024, đối với bị cáo:
Trần Tiến K, sinh ngày 13/01/1966, tại tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Là đảng viên Đ (Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 212/QĐ/UBKTHU ngày 05/8/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Y); con ông: Trần Tiến K1 (đã chết), con bà: Hoàng Thị P (đã chết); Vợ, Hoàng Thị T, sinh năm 1974; con: Có 03 con, con lớn nhất (đã chết) con nhỏ nhất sinh năm 2014;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Thị N (bị hại đã chết): anh Đỗ Phùng H, sinh năm 1972;
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 31/01/2024, Trần Tiến K, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe mô tô biển số 22K7-6162 (xe của K, K có giấy phép lái xe hạng A1) đi từ nhà đến nhà anh Nguyễn Kim T1, trú tại thôn H, xã Đ, huyện Y để ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô từ nhà anh T1 đi về nhà (theo hướng phường Đ đi thành phố T). Khoảng 20 giờ cùng ngày, K đi đến Km16 đường Q thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T. Cùng lúc này, bà Phùng Thị N, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y đang đi bộ phía trước, cách mép đường phải khoảng 1,8 mét theo hướng phường Đ đi thành phố T (cùng chiều đi với K). Do không chú ý quan sát (K không nhìn thấy bà N đi bộ cùng chiều phía trước) nên xe mô tô do K điều khiển đã đâm vào người bà N, khiến bà N, K và xe mô tô ngã, đổ xuống đường. Hậu quả, bà N chết tại chỗ, K bị thương nặng phải đi cấp cứu tại bệnh viện Đ1.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông tại K đường Q, thuộc khu vực tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T. Mặt đường rộng 10m90, trải nhựa nhẫn, phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn. Khám nghiệm hiện trường theo hướng Hà Nội đi thành phố T. Từ tâm giữa vạch kẻ sơn đến mép bên phải đường theo hướng khám nghiệm là 5m55. Vị trí số 1 là vùng vết cày trượt, gồm 02 vết song song chạy dọc mặt đường theo hướng khám nghiệm, dài 22m55, rộng 63cm, sâu 0,01cm, điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 180cm, điểm cuối cách mép đường chuẩn 220cm. Vị trí số 2 là tử thi bà Phùng Thị N, đầu tử thi cách mép chuẩn 75cm, gót chân bên trái tử thi nằm trên mép chuẩn, cách điểm đầu vị trí số 1 là 7m60. Vị trí số 3 là vùng máu, kích thước (470 x 0,5)cm, điểm đầu vùng máu cách mép đường chuẩn 345cm, cách điểm đầu vị trí số 1 là 17m70 ... Vị trí số 6 là xe mô tô biển số 22K7-6162, trục bánh lốp phía trước của xe mô tô cách mép chuẩn 110cm, tâm trục bánh sau của xe mô tô cách mép đường chuẩn 25cm. Vị trí số 7 là vùng vết máu 2, kích thước (20 x 30)cm. T2 vùng vết máu cách mép đường chuẩn 250cm, cách trục bánh sau xe mô tô biển số 22K7-6162 là 330cm.
Khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, xe mô tô biển số 22K7-6162 ghi nhận: Đèn chiếu sáng phía trước bị bung bật khớp nối, rời khỏi vị trí ban đầu, ốp nhựa đầu xe bị nứt vỡ, tại góc bên trái phía dưới chân gương bị mài xước kích thước (48 x 19)cm. Mặt nạ phía trước đầu xe bị vỡ mất mảnh nhựa, bề mặt mài xước, kích thước (47 x 30)cm. Cánh yếm phía trước bên phải bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, đuôi cánh yếm bên trái bị vỡ mất mảnh. Chắn bùn phía trước đầu xe bị mài xước kích thước (8 x 8)cm...
Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Trần Tiến K tại thời điểm 21 giờ 18 phút ngày 31/01/2024, kết quả đo được là 0,299 mg/L khí thở.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 253/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của Phùng Thị N là chấn thương gãy trật đốt sống cổ 3, 4.
Kết luận giám định tìm chất ma túy số: 275/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh T đối với mẫu máu thu trực tiếp từ cơ thể ông Trần Tiến K, kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu gửi giám định.
Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Giá trị khắc phục, sửa chữa phần bị hư hỏng thiệt hại của xe mô tô biển số 22K7-6162, nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ đen là 2.000.000 đồng.
Vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tạm giữ của Trần Tiến K: 01 xe mô tô biển số 22K7-6162, nhãn hiệu HONDA; 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 13/8/2002 mang tên Trần Tiến K; 01 Chứng nhận đăng kí xe mô tô, mang tên Trần Tiến K; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Andes, màu sơn bạc, đã qua sử dụng; 01 gác để chân xe máy, dài 19 cm, phần cao su kích thước (10x4)cm; 01 kính chắn gió mũ bảo hiểm xe máy, kích thước (40x12)cm; 01 mảnh vỡ yếm xe mô tô, màu sơn đỏ đen trắng, kích thước (47x20)cm.
Ngày 02/4/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại các tài sản trên cho Trần Tiến K. Còn lại 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 13/8/2002, mang tên Trần Tiến K; 01 Chứng nhận đăng kí xe mô tô, cấp ngày 23/9/2008, mang tên Trần Tiến K được chuyển theo hồ sơ chờ xử lý.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Tiến K đã bồi thường cho gia đình người bị hại Phùng Thị N số tiền 170.000.000 đồng, anh Đỗ Phùng H (là người đại diện hợp pháp của bị hại) đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKSTP ngày 24 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Trần Tiến K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Trần Tiến K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Tiến K từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Tiến K cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại là anh Đỗ Phùng H (đại diện theo pháp luật của bị hại Phùng Thị N) số tiền 170.000.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu đồng). Anh H đã nhận đủ số tiền và không đề nghị bị cáo phải bồi thường thêm.
- Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Trần Tiến K 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: H027952 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 13/8/2002 mang tên Trần Tiến K, sinh năm 1966, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, số:039662 do phòng C Công an tỉnh T cấp ngày 23/9/2008, mang tên Trần Tiến K, sinh năm 1966, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, biển số đăng ký 22K7 - 6162
- Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo, đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Đỗ Phùng H trình bầy tại phiên tòa về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, về bồi thường dân sự không yêu cầu đề nghị gì thêm. Anh H nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến K thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm tử thi; kết luận giám định pháp y về tử thi; biên bản khám phương tiện và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 02 phút ngày 31/01/2024, tại K đường Q, thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Trần Tiến K, trú tại Thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 22K7-6162 tham gia giao thông mà trong hơi thở có nồng độ cồn, không chú ý quan sát nên xe mô tô do K điều khiển đã đâm vào người đi bộ là bà Phùng Thị N, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đang đi bộ phía trước, cùng chiều (vi phạm khoản 8, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ). Hậu quả bà N chết do chấn thương gãy trật đốt sống cổ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; có bố đẻ là Trần Tiến K1 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; có bố vợ là Hoàng Văn T3 được tặng huân chương kháng chiến hạng nhất và là thương binh hạng 3/4; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại (bà N) cũng có một phần lỗi đi bộ không đi sát mép đường là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3].Về hình phạt: Bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát; không chấp hành luật giao thông đường bộ, khong chú ý quan sát và điều khiển xe mô tô đi trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn đã gây ra vụ tai nạn giao thông đường bộ làm thiệt hại đến tính mạng của bà Phùng Thị N. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác và các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên bị hại bà Phùng Thị N có một phần lỗi là đi bộ không đi sát mép đường (vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ). Do vậy, khi xem xét hình phạt cho bị cáo HĐXX xét thấy, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; đã khắc phục bồi thường cho bị hại, đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. nên HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng khoản 1 điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Hình phạt mà Kiểm sát viên Viện kiểm sát thành phố T đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại anh Đỗ Phùng H (đại diện theo pháp luật của bị hại bà Phùng Thị N) số tiền 170.000.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu đồng). Anh H đã nhận đủ số tiền và không đề nghị bị cáo phải bồi thường thêm. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Trần Tiến K 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: H027952 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 13/8/2002 mang tên Trần Tiến K, sinh năm 1966, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, số:039662 do phòng C Công an tỉnh T cấp ngày 23/9/2008, mang tên Trần Tiến K, sinh năm 1966, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, biển số đăng ký 22K7 - 6162
[6]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bà Phùng Thị N khi đi bộ không đi sát mép đường (vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ) tuy nhiên do bà N đã chết nên không xem xét xử lý.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tiến K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Tiến K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Tiến K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Trần Tiến K 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: H027952 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 13/8/2002 mang tên Trần Tiến K, sinh năm 1966, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, số:039662 do phòng C Công an tỉnh T cấp ngày 23/9/2008, mang tên Trần Tiến K, sinh năm 1966, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, biển số đăng ký 22K7 – 6162.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 12/8/2024).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Tiến K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 15/8/2024.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
