|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST.
Ngày: 15-8-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Đào Thị Mộng Trinh;
- 2. Ông Đặng Văn Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích T – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/HS.ST ngày 24/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 23/5/2024, Quyết định hoãn phiên Tòa số 08/2024/HSST-QĐ ngày 06/6/2024; Thông báo hoãn phiên Tòa số 03/2024/HSST-QĐ ngày 03/7/2024; Quyết định Hoãn phiên Tòa số 09/2024/HSST-QĐ ngày 02/8/2024 đối với bị cáo:
PHẠM THỊ TRÚC LINH - Sinh năm 1976; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 09/12; Cha: Phạm Công C, sinh năm 1948 (Chết); Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1950; Hiện ở thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Bà Đỗ Thị H – Sinh năm 1976 (Có mặt).
Hộ khẩu thường trú: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tạm trú: Khu phố T, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Mỹ H1 – Sinh năm 1970 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố D, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu năm 2018, khi uống cà phê tại thành phố P, Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1976, ở thôn D, xã H, huyện H gặp một người phụ nữ tên T2 (không rõ nhân thân) và được T2 giới thiệu mình làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nên L đã đặt T2 làm một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả với diện tích 300m² ở thôn D, xã H, huyện H với giá 15.000.000 đồng, mục đích sau này cần sẽ đem thế chấp vay tiền. Khoảng 01 tháng sau, L được một thanh niên (không rõ nhân thân) đưa 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CO 232037, do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 15/6/2018 đứng tên Phạm Thị Trúc L, diện tích 300m², địa chỉ tại thôn D, xã H, huyện H, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn. L biết rõ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 232037 không có giá trị pháp lý nhưng đến cuối tháng 9/2022, do cần tiền nên L đã nảy sinh ý định lấy đem thế chấp để vay tiền rồi chiếm đoạt. L đã nhờ bạn là Trần Thanh T3 (T4), sinh năm 1972, ở thôn H, xã H, huyện B giúp tìm người để vay số tiền 50.000.000 đồng. Ông T3 đồng ý, liên hệ hỏi vay tiền của bạn là bà Đỗ Thị H, sinh năm 1976, ở khu phố A, phường P, thành phố P thì bà H nói có người nhận cho vay thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, bà H nhờ bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1970, ở khu phố D, phường X, thành phố P đứng ra cho vay tiền nên bà H đưa cho bà H1 số tiền 50.000.000 đồng. Đến sáng ngày 02/10/2022, L cùng ông T3 đến quán C1 ở đường Đ, thành phố P gặp bà H và bà H1 để thỏa thuận vay tiền. Tại đây, L nói với bà H1 cần vay số tiền 50.000.000 đồng để lo công việc và thế chấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 232037, đồng thời Linh nói dối giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 232037 là thật. Tin tưởng L nên bà H và bà H1 đã đồng ý cho L vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận là 500.000 đồng/10.000.000 đồng/tháng. Sau khi thỏa thuận xong, L viết giấy mượn tiền với nội dung vay của bà H1 số tiền 50.000.000 đồng và thế chấp 01 cuốn sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) trong khoảng thời gian 02 tháng sẽ trả lại tiền cho bà H1. Sau đó, L giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CO 232037 và giấy mượn tiền cho bà H1 và nhận số tiền 50.000.000 đồng, bà H1 đưa lại cho bà H cất giữ.
Vào ngày 02/11/2022 và ngày 02/12/2022, L đã trả cho bà H1 số tiền lãi hai tháng tổng cộng là 5.000.000 đồng, bà H1 đưa số tiền này cho bà H. Sau đó, L không trả tiền lãi và tiền gốc như thỏa thuận, bà H nhiều lần liên lạc với L nhưng không được. Bà H nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất L thế chấp là giả nên ngày 19/7/2023, bà H đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H để kiểm tra. Qua kiểm tra, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H xác định là giả. Cùng ngày, bà H đến Cơ quan Công an huyện H để tố cáo L. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H mời L làm việc thì L thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định số 1134/KL-KTHS ngày 13 tháng 09 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- - Phôi giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 232037 (ký hiệu A) là giả.
- - Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “ỦY BAN N.D HUYỆN HÀM THUẬN BẮC T. BÌNH THUẬN” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A là giả.
- - Chữ ký mang tên “Phó chủ tịch Nguyễn Ngọc T5” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký cùng tên trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 đến M4 là không phải do cùng một người ký ra.
Vật chứng thu giữ:
Bà Đỗ Thị H giao nộp: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CO 232037 do Phó Chủ tịch UBND huyện H Nguyễn Ngọc T5 cấp ngày 15/6/2018 đứng tên Phạm Thị Trúc L, thửa đất số 122, tờ bản đồ số 55, địa chỉ tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, diện tích: 300,0m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; 01 giấy mượn tiền đề ngày 02/10/2022.
Về dân sự:
Bà Đỗ Thị H yêu cầu Phạm Trúc L phải trả số tiền 61.662.000 đồng, gồm: 50.000.000 đồng tiền gốc và số tiền lãi từ ngày 02/12/2022 đến ngày 02/2/2024 là 11.662.000 đồng. Phạm Thị Trúc L đã trả cho bà H số tiền 4.000.000 đồng, số tiền còn lại 57.662.000 đồng chưa bồi thường.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phạm Thị Trúc L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phạt Phạm Thị Trúc L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 341; Điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 55 Bộ luật Hình sự. Phạt Phạm Thị Trúc L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc bị cáo L phải chấp hành từ 04 năm đến 05 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CO 232037 do Phó Chủ tịch UBND huyện H Nguyễn Ngọc T5 cấp ngày 15/6/2018 đứng tên Phạm Thị Trúc L, thửa đất số 122, tờ bản đồ số 55, địa chỉ tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, diện tích: 300,0m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; 01 giấy mượn tiền đề ngày 02/10/2022 là chứng cứ của vụ án.
- Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Khoản 1 Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại Đỗ Thị H với bị cáo Phạm Thị Trúc L như sau: Phạm Thị Trúc L có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Đỗ Thị H số tiền 46.000.000 đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Trúc L khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng đầu năm 2018, Phạm Thị Trúc L đặt một phụ nữ tên T2 (không rõ nhân thân) làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 232037 đứng tên Phạm Thị Trúc L với diện tích 300m² đất. Sau đó, L tìm nơi thế chấp để chiếm đoạt tài sản. Đến cuối tháng 9/2022, tại quán cà phê N Mãi trên đường Đ, ở thành phố P, L sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CO 232037 thế chấp để tạo lòng tin và vay số tiền 50.000.000 đồng của bà Đỗ Thị H rồi chiếm đoạt số tiền trên.
Hành vi trên của bị cáo Phạm Thị Trúc L đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo L khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã nộp tiền bồi thường khắc phục một phần hậu quả về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có mẹ ruột tên Nguyễn Thị T1 là người được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và tại Tòa được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, nhân thân mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo cần thiết phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về Vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CO 232037 do Phó Chủ tịch UBND huyện H Nguyễn Ngọc T5 cấp ngày 15/6/2018 đứng tên Phạm Thị Trúc L, thửa đất số 122, tờ bản đồ số 55, địa chỉ tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, diện tích: 300,0m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; 01 giấy mượn tiền đề ngày 02/10/2022 là chứng cứ của vụ án, tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án
Tại Tòa bà Đỗ Thị H chỉ yêu cầu bị cáo Phạm Thị Trúc L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà H với số tiền 50.000.000 đồng, bà H xác nhận đã nhận được số tiền 4.000.000 đồng, nay yêu cầu bị cáo L phải hoàn trả 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng). Phạm Thị Trúc L tự nguyện thống nhất thỏa thuận đồng ý hoàn trả số tiền trên cho bị hại, nên ghi nhận.
[9] Về những vấn đề khác:
Đối với lời khai của Phạm Thị Trúc L về người phụ nữ tên T2 là người đã làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho L nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với ông Trần Thanh T3 là người giới thiệu cho Phạm Thị Trúc L vay tiền của bà Đỗ Thị H nhưng hiện nay ông T3 không có mặt tại địa phương. Theo lời khai của Phạm Thị Trúc L, bà Đỗ Thị H và Nguyễn Thị Mỹ H1 thì ông T3 không biết việc L sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để vay tiền của bà H nên không đồng phạm với L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phạm Thị Trúc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c Khoản 2 Điều 174; Khoản 5 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 341; Khoản 4 Điều 341; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Khoản 1 Điều 586; Điều 589 và Điều 357 Bộ luật dân sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Trúc L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt: Phạm Thị Trúc L 02 (H2) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (H2) năm tù về tội “ Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo L phải chấp hành là 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Phạm Thị Trúc L.
2.Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CO 232037 do Phó Chủ tịch UBND huyện H Nguyễn Ngọc T5 cấp ngày 15/6/2018 đứng tên Phạm Thị Trúc L, thửa đất số 122, tờ bản đồ số 55, địa chỉ tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, diện tích: 300,0m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; 01 giấy mượn tiền đề ngày 02/10/2022.
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại Đỗ Thị H với bị cáo Phạm Thị Trúc L như sau: Phạm Thị Trúc L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đỗ Thị H số tiền 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Thị Trúc L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 2.300.000 đồng(Hai triệu ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả
